Nói với mình và các bạn

Tác giả: Lưu Quang Vũ

1
Chúng ta tụm năm tụm ba
Họp hành, giễu nhau, uống trà, đọc thơ, đi thực tế
Ta viết những suy tư ngây ngô vờ là trí tuệ
Những câu nhạt phèo chiếu lệ
Những lời nhàm tai ai cũng quen rồi
Mọi người quanh ta mang nỗi khổ oằn vai
Ngực đất nước tai ương xé rách
Ta viết mãi những điều vô ích
Vô duyên sao ta cứ nhoẻn miệng cười
Như phường bát âm thánh thót
Mong cuộc đời xuôi tai.

Tôi không muốn viết những lời như thế
Tôi không thể viết những lời như thế
Chẳng muốn ai vui lòng khi đọc thơ tôi
Tôi viết những bài thơ chống lại chính tôi
Chống lại bóng đen trì trệ của đời
Chống lại những bài thơ tôi đã viết cùng những ai ưa thích nó
Làm sao đọc thơ tôi anh giận dữ băn khoăn xấu hổ
Cãi lại tôi hay ghét tôi đi nữa
Nhưng anh thôi hờ hững sống bình yên
Tôi xé đi vòng hoa giấy bức màn sương
Những niềm vui dại khờ những nỗi buồn yếu đuối
Cuộc sống còn dở dang
Cần đóng góp không cần ngồi ca ngợi.

2
Thơ không phải là chứng minh
Không phải hào quang phản chiếu của tấm gương
Thơ là bó đuốc đốt thiêu là bàn tay thắp lửa
Thơ sinh sự với cuộc đời không cho ai dừng bước cả
Càng thương yêu càng không vừa ý với mọi điều
Đã qua cái thời nhà thơ nhìn đời bằng con mắt trong veo
Con mắt xanh non ngỡ ngàng như mắt trẻ
Hát cái lá mùa xuân ca lời chim son sẻ
Thơ tươi mát cuộc đời và an ủi lòng ta
Nhưng đến nay tất cả đã vỡ ra
Giữa tàn bạo hư vô giữa đấu tranh khốc liệt
Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt thật
Đập vào ngực ta không cho ta cúi mặt
Không cho ta lảng tránh
Đập cửa mọi nhà
Đứng ở mọi ngã ba
Không hát ta say mà lay ta thức
Dù ngày mai đời có trăm lần đẹp
Thơ vẫn gọi mọi người vươn đến tương lai.

3
Ta đã làm gì? như lũ viết thuê
Chạy theo những biển hàng ngắn ngủi
Những khuôn phép những trang in những hư danh một buổi
Ta nịnh người để người lại khinh ta
Sớm già cỗi, cố quên đi phẩm cách
Muốn yên thân ta trở thành hèn nhát
Nhân dân có cần thơ của ta đâu?
Các bạn tôi hiền lành trong sạch
Là bạn nhau thôi chắc là bạn tốt
Nhưng bạn ơi ta là những nhà thơ
Lòng tốt ở đây chẳng đáng một xu
Càng có tài lộc lọc lừa càng nặng
Để yên ổn lương tâm ta tìm đến nhau thở than bực dọc
Rồi lại về cần cù ngồi viết nhảm
Ta an ủi mình đang thời buổi khó khăn
Nhưng nào có thời buổi nào không khó
Và nếu dễ, cần gì thơ ta nữa?
Nhân dân quá hiền, nhân dân chưa xé bỏ
Những ngọt ngào hoa cỏ của ta
Những nụ cười ngộ nghĩnh của ta
Những trầm tư về thế kỷ của ta
Lắm kiểu nói mà giống nhau đến thế
Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ
Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi.

Đừng hiểu sai lòng tôi
Làm việc cô đơn thật là quá sức
Sau những lúc bông phèn bên các bạn
Tôi càng thêm buồn chán đến rùng mình
Đã quá nhiều người làm tôi thất vọng
Tôi chỉ còn các bạn nữa thôi.
Hạnh phúc của tôi là được các bạn mến yêu
Là được mến yêu và tin các bạn
Thế hệ mình cần những người dũng cảm
Dũng cảm yêu thương dũng cảm căm thù
Ta đã hẹn cũng nhau đi tới đích
Nay rất buồn nếu phải chia xa.

Nước lũ qua sẽ còn lại phù sa
Những tình yêu những ước vọng thiết tha
Dẫu bay đi không một lời đáp lại
Dẫu trơ trọi trong lạnh lùng bóng tối
Dẫu đường dài xa ngái
Đừng phút nào mệt mỏi, thơ ta ơi.

(1970)

Đăng tải tại Thơ | Thẻ | Bình luận về bài viết này

bé lợn, lớn bò

Đăng tải tại Giáo dục | Bình luận về bài viết này

Đúc người vì lợi ích dăm năm(BS)

(Thư ngỏ – Kính gửi các bác lãnh đạo ngành giáo dục từ xưa cho tới mai sau)

Nguyễn Hữu Vinh

Cháu không còn trẻ nữa, cũng không phải đi học nữa, nhưng thấy mình vẫn còn non nớt lắm, nên xin được xưng hô vậy. Già người mà vẫn thấy còn non cái dạ, lại hèn kém, đó chính là một trong những lý do quan trọng thôi thúc cháu viết lá thư này. Ngành giáo dục mà các bác lãnh đạo cháu xin được gọi là “cỗ máy đúc người”, và bức thư này cháu xin được gửi tới hết thảy các bác lãnh đạo của ngành trong nhiều thế hệ mà cháu cũng xin được mạn phép gọi là các “quản đốc phân xưởng đúc”. Tại sao vậy? Cháu sẽ xin được làm rõ.

•Trước hết là ý muốn chia sẻ nỗi lo của các bác đang vật vã với chuyện đúc người bao nhiêu năm nay, cứ cải (cách) đi rồi cải lại mà càng bế tắc thêm.
•Cái cỗ máy đúc người này nó làm cháu nhớ tới cuốn phim Đồi thịt băm, tức là nó băm vằm, nuốt chửng danh tiếng và mọi nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo các bác (nếu như ai đó thực tâm có). Các bác không thấy được, hoặc làm như không thấy, là nó chỉ như một cỗ máy trong một nhà máy khổng lồ, đã vận hành từ rất lâu với một sức mạnh và quán tính khủng khiếp. Hơn nữa, nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là đúc ra mọi chi tiết cho những cỗ máy cái ở các phân xưởng khác. Thế mà cứ cố vặn vẹo nó nay tí mai tí mà không chịu cải đổi hẳn đi, không quan tâm tới các cỗ máy khác đang lôi kéo nhằng nhợ với nó thì đương nhiên sẽ bị nó nuốt chửng.
•Cái cỗ máy này thực ra đã một thời có công tích ghê gớm, có điều hình như chưa thấy ai phân tích cái kiểu công tích này và việc nó tác động lại theo lối phản tác dụng ghê gớm ra sao tới xã hội chúng ta, và đến chính nó, cái cỗ máy làm ra công tích đó.
1. Công

Phải nói là giờ nhớn rồi, lại được mở mang hiểu biết ra bên ngoài nước mình, cháu mới càng thấy một điều là cái kiểu đúc người (giáo dục) ở ta trong những năm chiến tranh quả là tuyệt diệu. Đó là “triệu người như một”, đều tăm tắp, tuân lệnh răm rắp, không giống bên Tây nó “đúc” thì ra mỗi người mỗi kiểu. Duyên do thì nhiều lắm, cháu xin kể lể vài điều ra đây. Số là dân mình tuyệt đại đa số vốn đã nghèo khổ, ngoài việc chả biết gì ngoài lũy tre làng, lại phải chịu ảnh hưởng đủ thứ tư tưởng, văn hóa Nho Khổng, Phật, Lão nhưng bị thăng trầm méo mó đi qua bao đời, nên con người ta sống rất chi là khiêm nhường, yếm thế với “bề trên”, không kênh kiệu như bên Tây. Đến khi cách mạng nổi lên, giành độc lập, họ được bảo là mình giờ thành ông bà chủ xã hội hết rồi, nhưng khốn nỗi lại cứ bị các bố đầy tớ (tức là cán bộ – “đầy tớ của nhân dân”) mắng mỏ dạy bảo đủ kiểu, từ trẻ nứt mắt cho tới già kề miệng lỗ. Thành thử bà con chả biết đâu mà lần, càng phải khiêm tốn tợn, phát triển thêm luôn cái đức tính giả vờ nữa, tức là nói, nghĩ một đằng làm một nẻo. Điều này vô cùng là móc xích với cái công nghệ đúc người ở ta. Cụ thể là bọn trẻ con chúng cháu là nhân dân, thì nhẽ ra thầy cô, đến cả các bác bộ trưởng nữa, phải là đầy tớ của chúng cháu, đúng với cái khẩu hiệu của chế độ, là phải hết lòng phục vụ. Thế nhưng sự tình nó cứ ngược lại hết làm cho chúng cháu quen dần cái lối sống giả vờ mà ngày nay các bác đang khốn khổ để “tuyên chiến”, ấy là “gian dối trong thi cử”, “bệnh thành tích trong giáo dục”. Khởi đầu là cái “cá nhân” trong mỗi con người luôn được đè nén xuống dí dị; làm gì, nghĩ gì cứ là vừa phải theo “tập thể”, “đoàn thể”, vừa phải tin tưởng tuyệt đối ở “trên” (tức là ở các ông bà đầy tớ). Từ ngày còn bé tẹo, chúng cháu đã biết nhận thức là mình rất ngu, rất hư, rất chi là “cá nhân chủ nghĩa,” nên mọi hoạt động phải đi vào khuôn phép. Nào là hát đồng ca, vỗ tay đồng loạt, tập đánh vần cũng phải đồng thanh theo nhịp thước cô gõ chan chát (có nhẽ để sau này nhớn lên mà phát triển cái “đồng tình”, “đồng chí”, “đồng lòng”…?) Học được mấy bài hát mà thấy bài nào cũng có từ “ngoan”, “cố gắng”, “không khóc nhè” nên nó ngấm vào máu cái tính “ngoan” hết mực, đói mấy cũng phải tươi cười tin tưởng phơi phới. Kế đến là cái khoản “xin-cho” thôi thì đủ kiểu. Đến cả buồn tè, mót ị mấy cũng phải giơ tay xin phép, cô cho thì mới được đi, không thì cố mà nín, đùn ra đấy là rất hư, hết cả “phiếu bé ngoan”. (Ngày qua ngày, càng già cháu càng rõ là cái cảnh xin xỏ này nó cứ diễn ra suốt đến lúc chết. Nào là xin vào trường học, xin đăng ký hộ khẩu, xin khai sinh, khai tử, xin khai thành tích để được khen… Còn cái chuyện “nín” thì càng lớn lên càng giỏi, cháu xin nói ở phần sau). Cô kể chuyện xong mà không vỗ tay là hỗn, cũng hư là cái chắc. Thành thói quen như từ cha sinh mẹ đẻ để sau này cấp trên có nói (bậy) ra cái gì cũng cứ vỗ tay rào rào, làm láo mà cũng phải khen nức nở.

Nhớn lên tí, học cái kiến thức thì cũng rất đặc biệt, chúng cháu được vun đắp thật là nhiều, những thứ rất cao siêu nhưng thuộc “phe ta” thôi; những gì về thế giới bên ngoài, của kẻ địch, hay phe khác thì được coi là nọc độc nên rất hạn chế. Còn chuyện hai bên đánh nhau thì cũng toàn ta dũng cảm, khôn ngoan, thắng ào ào, địch thì hèn nhát, ngu si nên thua chạy như vịt cả. Viết bài luận về thơ, văn của các vị nổi tiếng, nhất là có chức sắc nữa, là cứ phải khen ngất giời chứ cấm có được chê, kể cả hơi “băn khoăn” tí cũng ăn điểm không là còn nhẹ. Làm văn về đất nước là phải “rừng vàng biển bạc”, phải có “gương người tốt việc tốt”, “chế độ ta tươi đẹp”. Tóm tắt là cái gì của ta, từ “trên” là “cực kỳ” (đúng, tốt), còn của địch là khốn nạn hết. Trong quá trình vun đắp là phải căng tai trợn mắt ra mà lĩnh hội, chứ đứa nào nhỡ có hơi “thiên nhiên” tí, nảy nòi ra cái tính thắc mắc, cãi bướng, ưa tranh luận là mệt ngay. Cái kiểu dạy “thầy đọc trò chép” mà giờ các bác đang khốn khổ loại trừ phát sinh chính từ đây, nó giúp cho chúng cháu là những kẻ được “lập trình” vào đầu ngay từ tấm bé cho những nhận thức là ý kiến của “trên” thì chỉ có đúng, phải tuân theo răm rắp, kẻ nào không đồng ý với “trên” là coi như kẻ thù. Còn đã là kẻ thù thì ắt xấu xa, phải tiêu diệt nếu như không chịu cải tạo. Để được rèn giũa thì ngoài thầy cô còn có tầng tầng lớp lớp các đoàn thể ngay từ nhi đồng, thiếu niên… kèm cặp cho chúng cháu ngày càng ngoan (nghĩa là kiểu “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”), có thêm “tinh thần tập thể”, giảm bớt cái “cá nhân” đi (mà giờ cháu mới hiểu là bên Tây nó hay gọi là có “cá tính”). Chưa hết, lại còn một lực lượng kiểu cảnh sát dân sự biệt danh là “Cờ đỏ”, tai mắt của thầy cô, xem có đứa nào vẫn còn hư không, làm cho đứa nào cũng cảm giác khó hiểu về bạn bè mình, còn mình thì lại tập cái tính sống ít hồn nhiên đi, thích phát hiện những đứa bạn hư để hớt lẻo với cô, để được công tích cho đỡ bị bảo là hư, là ngu. Mà chuyện công tích thì quan trọng khủng khiếp, trong hơn cả một đời người, từ khi đẻ ra cho qua cả lúc chết rồi. Vì có nhiều danh hiệu vô cùng để phấn đấu mà đạt cho được. Đứa nào không được danh hiệu thì sợ hãi khủng khiếp, cảm giác như bị bọn có danh hiệu nhìn ngắm mình như quái vật; vì số này rất ít, nên dưới đẳng cấp này thì chỉ còn có bọn tội phạm đi tù, cải tạo thôi. Để có danh hiệu là phải qua những công đoạn chấm điểm rèn luyện kỷ luật, từ đầu tóc, quần áo, nói năng, giờ giấc, rồi bọc, dán nhãn, giữ gìn sách vở sạch đẹp… (nhiều không kể hết được, cho cả cá nhân và tập thể). Thế rồi tính toán, “cân đối”, bình bầu, kèm theo là nhiều cuộc họp hành nữa. Cả trường xếp hàng nghe đọc điểm thi đua mỗi tuần, điểm cao là được khen, thấp là bị bêu riếu. Không khí ganh đua kèn cựa nhau từng li một muốn nghẹt thở, cứ gọi là mụ mị cả người, cảm giác tội lỗi, hèn kém luôn thường trực trong mình. Lại còn luôn luôn được hô những khẩu hiệu đạo đức mà những chữ “khiêm tốn”, “đoàn kết”, “kỷ luật” cứ gọi là ưu tiên hàng đầu. Trong mọi ngôn từ hàng ngày cho tới bài vở viết ra chúng cháu đều được dạy những từ ngữ rất chi là hoành tráng, gọi là ngôn ngữ ngợi ca. Nên cái không khí chung là cực kỳ… (xin lỗi, cháu không tìm ra được từ nào để diễn tả nữa). Và các bác sẽ chả lạ gì cái lối làm “bài văn mẫu” ngày nay đầy dẫy là có ngọn nguồn từ đây. Đến như cái “khẩu hiệu” nhiều năm nay trường nào cũng có, nghe rất chi là “đậm đà bản sắc dân tộc”, là “tiên học lễ, hậu học văn”, mà nào có mấy ai từ thầy đến trò được hiểu cho đúng cái chữ “lễ” của cụ Khổng Tử nó mênh mông đến nhường nào đâu. Cứ nghĩ theo lối tộc tệch là bọn trò chúng cháu phải trước hết “thấm nhuần” cái thái độ “lễ bái”, “lễ độ”, “lễ phép”, nhũn như con chi chi, có khi lại phải dâng “lễ lạt”, “lễ vật” nữa (tức là có… “phong bì”, “con gà nải chuối” cho thầy cô).

Ngoài nhà trường ra thì khắp nơi hang cùng ngõ hẻm, trong xóm ngoài làng, xưởng máy, ruộng đồng, cơ quan, đoàn thể, đêm ngày bằng mọi phương tiện từ báo, đài, thơ, truyện, ca, múa, nhạc, kịch, thể thao… cả “chuyên” và “không chuyên”, chúng cháu luôn luôn được tiếp tục “hun, đúc” không ngừng tất tật những gì thuộc về lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối, tự hào vô cùng về hiện tại, tương lai đất nước, chế độ, “bề trên”, căm thù tận xương tủy kẻ thù xấu xa. Tức là cái gì cũng có ranh giới tuyệt đối: tốt và xấu, ta và địch. Nên cái chữ “trồng người” nó phải được gọi là “đúc người” mới phải. Nghĩa là không có chăm bón, vun xới, nâng niu theo lối mơn trớn, “dân chủ giả hiệu” gì sất, mà là nung chảy, đổ khuôn, rèn, đột, dập, mài, dũa, cắt gọt, đánh bóng cho đến nhẵn thín, tròn xoe ra mới… vẫn chưa thôi.

Thế là những lớp người được trở nên vô cùng hoàn hảo, chả có chống đối, nghi ngờ, thắc mắc, tơ tưởng “đứng núi nọ trông núi kia”. Bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, không một tí tiếc rẻ tài sản, máu xương. Sống cực kham khổ nhưng vẫn tươi hơn hớn, có biết bên ngoài người ta sống ra sao, nghĩ cả thế giới này cũng vậy, phần thì tin tưởng, phó thác ở “trên” dẫn lối chỉ đường hết. Cả triệu người như một hàng quân, tay nào khác đi một tẹo, dù là ý nghĩ, ánh mắt là trơ thổ địa ra, dễ bị nghi là phản động ngay, ít ra cũng là “thiếu kiên định”, phải tự đấm ngực kiểm thảo. Những diện có thể có những biểu hiện khác thường nhất, như là các nhà thơ, văn, nhạc…, dễ bất ngờ “thai nghén” những sản phẩm tinh thần trái cựa có nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, lòng trung thành tuyệt đối, thì cũng được luyện làm sao các sản phẩm đó không những vẫn ở trong vòng kiểm soát (được gọi là theo “định hướng”) mà còn phải trở thành những khẩu hiệu hành động nóng dẫy. Những nhu cầu bản năng của con người từ ăn uống cho tới làm tình đều bị phỉ nhổ là thấp hèn, phải cố mà nín nhịn, kể cả nín không được mà tuôn ra thành văn, xổ ra thành tranh là cũng “ăn đòn” ngay; ngộ nhỡ có hơi tham tí mà “ăn vụng” lại không biết “chùi mép” là thôi rồi, tương lai mờ mịt luôn (dạo ấy có cái từ nghe còn kinh hơn án tử, gọi là “hủ hóa.” May quá giờ hiếm ai nhắc đến nữa). Vì rõ là mọi thứ nó đều có “suất” cả (giờ gọi là “bao cấp”). Sợ chết, thèm ăn, thèm “sinh hoạt” cũng phải bảo là không sợ, không thèm. Tức là cái trình độ nghĩ một đằng, nhưng nói, làm một nẻo điêu luyện lắm, như được “lập trình” sẵn cả rồi. Tóm tắt lại thì cháu tự cảm thấy mình như thể một thứ người-máy-sinh-học, được đúc ra từ cái phân xưởng đúc mà các bác gọi là “ngành giáo dục,” lại còn được nhiều phân xưởng khác gọt dũa, “mông má” thêm, nên giờ nhớn như lão già rồi mà nhìn ra thế giới thấy mình vẫn còn non nớt lắm. Cứ thế, cái thế hệ người-máy này lại quay lại rèn đúc, đẽo gọt thế hệ người-máy khác (nói bỏ quá, chứ cháu biết các bác cũng nằm trong số này, có khác chăng là thuộc loại “chất lượng cao” thôi – tức khả năng bắt chước, giả vờ, tuân lệnh răm rắp là hơn hẳn đồng loại). Cũng thi thoảng có vài người-máy do bẩm sinh hoặc quy trình đúc bị lỗi mà sinh cái tật hay có ý kiến riêng là được căn chỉnh ngay. Đó là loại bướng bỉnh, thiếu ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh chính trị kém. Mà căn chỉnh tức là “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “mất thi đua”… cuối cùng là ảnh hưởng đến lương, thưởng, tem phiếu. Vậy là đâu lại vào đấy. Thật là tuyệt!

Báo hại cho phe địch cứ cậy giàu có văn minh mà không biết là đánh nhau với những lực lượng này thì chỉ có thiệt trở lên. Vì bên họ thì không có cái lối đúc người như thế này, mỗi sản phẩm mỗi kiểu, nên nó có cuộc sống rất là “cá nhân chủ nghĩa”. Nào là thắc mắc, đấu tranh, buồn nhớ nhà thì rên rỉ, hát nhạc vàng, rượu chè cờ bạc, ăn diện phè phỡn, gái mú. Ngoài đời họ cũng chả có đông đảo các ban ngành đoàn thể, phát động tuyên truyền, văn hóa tinh thần để rèn đúc theo kiểu “đồng tâm nhất trí” như ta; đã vậy lại còn để cho nhiều đoàn thể, báo đài nói cái giọng phản tuyên truyền lung lạc ý chí chiến đấu của quân dân nữa chứ. Nhất là cái lối thấy đánh nhau bị thua, chết nhiều quá là xót, đòi xem với xét. Thế thì khác gì bàn lùi, là nhận mình kém cỏi, không có chính nghĩa. Như thể hai phe dàn trận ra, một bên thì “triệu người như một” đều bắn, cùng a-la-sô đánh chí chết, chấp nhận hy sinh vô hạn, còn bên kia thì lại phải cãi nhau tiến hay lùi, không “tin tưởng ở trên”, lo thiệt hại nhiều nhân mạng. Thua sặc tiết là cái chắc! Thế mà giờ vẫn còn cãi nhau như mổ bò là vì sao bị thua. Giá chịu khó ngó đến lịch sử xa xưa thì sẽ thấy xã hội này được tổ chức cũng hao hao như cái thị quốc quân sự hùng mạnh Sparte ở Hy lạp thế kỷ thứ V trước Công nguyên, để mà biết mà dàn hòa chịu thiệt ngay từ đầu thì có phải yên chuyện không.

Đó là tóm tắt vài biểu hiện trong cái công tích của cỗ máy đúc người, chứ đi sâu chỉ ra hết, phân tích rõ thì đa dạng, thâm thúy vô cùng tận, phải những trí thức học giả mới làm nổi.

2. Tội

Thế rồi hòa bình lập lại, nhiều năm sau nữa mà cái cỗ máy đúc này nó chạy lại còn khỏe hơn hẳn xưa. Hình như cũng có nhiều vị hay chữ kiến nghị phải thay nó đi, đơn giản là xưa “đúc” chiến binh là chính, giờ thì phải “trồng người” như bên Tây để cho ra nhiều trí thức, công nhân bậc cao, nông dân giỏi công nghệ. Xưa đánh nhau lo mất nước, có phe nọ phe kia, nên cần “muôn người như một”. Giờ đâu còn lo nữa, thế giới đơn cực, chế độ thì vững như bàn thạch rồi, lại còn chơi với tất tật, kể cả những loại ngày xưa là kẻ thù nữa. Với lại cái trò đúc ấy nó cũng có mặt trái kinh khủng, làm cho ta thiếu hẳn những người-thật. Trước nay mình toàn “đúc”, mà người ta thì “trồng”; như cái cây ấy, chăm bón, vun xới rồi tự nó nhớn lên mơn mởn mỗi cây mỗi vẻ, chứ cứ khuôn hình “đúc” ra cứng nhắc, khô không khốc thì có mà đánh nhau mãi à? Hậu quả đau đớn là cứ bị mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, mới ngộ ra là vì ta quá thiếu người-thật, chỉ rặt những người-máy thôi, nào có dám cãi lại khi thấy “trên” làm sai. Thêm nữa là do “trên” thì các bác quản đốc, giám đốc biết thân biết phận, tâm niệm cái câu “ba anh hàng da thành anh Gia Cát Lượng” nên lãnh đạo theo lối “tập thể”, chứ không chơi kiểu “cá nhân” như bọn tư bản. Yên tâm quá, có chuyện gì thì cũng chịu trách nhiệm “tập thể”, tức là “hòa cả làng.” Cùng lắm là các bác đổ tại cái thằng… “cơ chế”, sợ gì chuyện làm sai, nên càng hay sai. Các bác lại còn thích kiểu ăn quả chắc, nên tuyển toàn loại người-máy thôi, ngại tuyển người-thật vì chúng nó hay cãi, dám hỗn láo vạch mặt cả cấp trên. Nhưng người- máy thì trông nó cứ “muôn người như một” nên cũng cực kỳ khó chọn, lý lịch anh nào thấy cũng na ná như anh nào, toàn “chấp hành”, “trung thành”, “khiêm tốn” cả. Các bác đành tổ chức thi… “chạy”. Anh nào “chạy” khỏe là ăn. Nhưng hóa ra những tay “chạy” khỏe thì làm việc lại cực ngu. Thế là các bác lại càng dễ mắc thêm sai lầm nữa.

Nhưng có lẽ các bác vẫn tính là thể nào cũng còn đánh nhau? Hay là cần các trí thức có phong cách như chiến binh người-máy? Hay các bác thấy giờ vi tính, rô-bốt ở tây nó phát triển quá nên nghĩ mình cả nửa thế kỷ nay thế là đi đúng cái kiểu “đi tắt đón đầu” rồi (đúc được người-máy)? Nên cỗ máy đúc vẫn cứ được dùng tiếp. Thi thoảng có tiếng kêu ca thì các bác lại xê dịch nó đi tị tẹo, sơn phết vào, hô là “cải cách”! Thế là yên chuyện.

Nhưng cái lũ người-máy-sinh-học giờ nó cũng quái ra phết. Không thấy đánh nhau nữa, lại thấy nhờ có cái “cơ chế thị trường” nên các người-máy có “cương vị” sống hơi bị Tây quá chứ không kham khổ như xưa nữa. Còn nhìn ra ngoài thì mới thấy là mình “thua em kém chị” ghê gớm. Thế là chúng nó nhao nhao lên. Một số thì lăn vào mà kiếm tình, tiền các kiểu, trong khi vẫn giữ cái vỏ người-máy. Số khác thì cố công nhồi nhét kiến thức bị hổng bao lâu nay, chỉ có điều nó vẫn bị cái thói quen là nhút nhát, sợ sệt không sửa được mấy, nên nhiều khi có cái sáng kiến cũng đành câm miệng, sợ dạy khôn người trên là bị mắng “thiếu khiêm tốn”, “gây mất đoàn kết nội bộ”. Cũng có một số ngộ ra là mình phải được có tí quyền này nọ chứ không thể như lớp trước mãi. Vậy là nảy sinh những xung đột xưa nay chưa từng thấy. Như tại xưởng đúc, nhiều thợ đúc bắt đầu áp dụng các ngón nghề cai ngục như ép học thêm, tra tấn, hỏi cung, lăng nhục người-máy, nhưng họ thường chỉ nhắm vào những loại hiền lành, ù lì thôi (khôn thế, chứ tra tấn loại người-máy khùng khùng có khi lại bị nó tra tấn lại thì khốn. Vì cũng có vài vụ người-máy nổi điên “xử lý” thợ đúc rồi). Đến độ nhiều người-máy bị hỏng “phần mềm”, bác sĩ gọi là sì-chét, là tâm thần, nói năng hành động lung tung, có những trường hợp tự tử nữa mới kinh. Tình trạng này giờ nhiều quá, công luận lên tiếng đòi có giải pháp, làm cho các bác quản đốc rối tinh không xoay xở kịp.

Khổ nữa là trong cái công cuộc “ra biển lớn” này (tức là làm ăn, quan hệ với khắp thế giới), những người-máy được đúc ra theo công nghệ cũ ngày càng bộc lộ kém cỏi. Vì không quen tự học hỏi, thường thụ động nên đơn giản là ra biển gặp sóng to gió lớn, cá mập, cướp biển nó rình rập mà cứ “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”, chả có sáng kiến tối kiến gì cho ra hồn; khó khăn tí thì lại đòi về xin ý kiến chỉ đạo của “trên”, “trên” lại thỉnh thị “trên” nữa, hoặc dở “cẩm nang” ra đọc, thì có mà làm mồi cho bạch tuộc tư bản, nó chả phải vươn vòi gì mà cũng kiếm ăn tại chỗ được.

Vậy mà nhiều năm nay, cỗ máy cổ quái này lại còn được gia cố để hoạt động mạnh hơn. Vì tình hình hai chục năm qua theo cái “cơ chế thị trường”, nhiều vị chức sắc cũng kiếm ra phết, cả danh lẫn lợi (nói trắng ra là chức tước, đô-la và bằng cấp, thành tích rởm), đến độ nổi tiếng ra cả thế giới chuyện ta bị giặc nội xâm tham nhũng nó đánh, chả kém tiếng tăm ngày xưa ta đánh giặc ngoại xâm; thế nhưng các em người-máy có biết được bác nào là “giặc” thì cũng im thin thít, an toàn quá chứ còn gì. Lại có nhiều người-máy có cương vị vào là muốn được đúc lại, nâng cấp, dán thêm tem nhãn cho oách, dễ được lên làm đốc công, quản đốc… Cả xã hội giờ cứ như một đại công trường đúc người-máy. Các kiểu đúc: Đúc giả, giả vờ đúc, đúc lại, giả vờ đúc lại, giả vờ đã được đúc, đúc “tại chức”, đúc “từ xa”, đúc “thường xuyên”, đúc kiểu nâng cấp, kiểu khẩn cấp, “đẳng cấp quốc tế” nữa (nghe nói đang có phương án), vân vân và vân vân, mà lại vẫn cứ rập khuôn theo cái công nghệ cũ ấy. Cỗ máy đúc giờ phải tăng ca, ngày tới 4-5 ca mà vẫn không hết việc, thế mà các bác lại còn mới đưa ra chỉ tiêu phải đúc nâng cấp thêm mấy chục nghìn nữa mới ghê. Cung không kịp cầu nên tức khắc phát triển cực mạnh cái dịch vụ mua bán tem nhãn chứng nhận rởm là đã được đúc, được nâng cấp (mới thử kiểm tra cái tỉnh gì trên Tây Nguyên mà đã ngót gần hai nghìn vị “dính” rồi). Thử hỏi làm sao mà thay cái cỗ máy này đi được, nhất là ai cũng thấy “đúc” dễ hơn “trồng” rất nhiều, cho cả thợ đúc lẫn người-máy. Chỉ thấy thay hết đời bác quản đốc này lại đến bác quản đốc khác mà điều tiếng thì ngày càng nhiều là tại sao chất lượng người-máy ngày càng tệ. Rồi còn nảy sinh ra đủ kiểu phong phú, như thi thoảng lại có bác quản đốc phân xưởng khác muốn được giả vờ đúc lại, giả vờ nâng cấp để được tại vị hoặc lên chức giám đốc, mà to thế thì phải chiều chứ. Chưa kể mỗi khi các bác có hô hào “từ nay chấm dứt cái trò giả vờ đúc nhé” (tức là phát động “nói không với bệnh thành tích”, “chống gian dối trong thi cử”), cũng không ăn nhằm gì, vì các phân xưởng khác họ cũng “làm giả, ăn thật” đầy dẫy ra cả rồi, mà thu nhập, năng suất của họ lại còn bằng vạn phân xưởng đúc. (Nên nói trắng ra là người nhớn, “bề trên” không làm gương chống gian dối, “bệnh thành tích” trước đi mà lại bảo trẻ con, kẻ nghèo hèn chống thì chống thế nào được). Thành thử công nhân phân xưởng của các bác cũng phải thi đua tăng thu nhập với họ thì mới sống nổi chứ. Vậy là các người-máy nay được đúc ra thậm chí còn tệ hơn với sản phẩm của cái lối “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” ngày xưa. Mệt nữa là các phân xưởng khác còn có đủ những quyền hạn khống chế cái xưởng đúc này để mà “vào guồng” cùng với mình. Ví như bên thiết kế (kiểu như tuyên giáo í mà), hay bên tài vụ (giống cái ngành tài chính ấy), quyền hành họ rất to, không nghe theo là họ “siết hầu bao”. Nhưng cũng chả thể đổ tại thiên hạ hết được vì cái công nghệ đúc của các bác nó quá lỗi thời rồi, trẻ con giờ nó lên vi tính, nhoằng một cái là nó biết hết ở bên Tây người ta thế nào, thế mà các bác cứ muốn nó phải nghe, phải tin những lời giáo lý theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” mãi sao được. Các bác cũng nào có chịu tin là bao nhiêu tệ nạn xã hội, giặc nội xâm tham nhũng, trò giả vờ ở cái xã hội này một phần chính là do cái lối đúc người của các bác mà ra. Có điều, thi thoảng cũng thấy thương các bác thật. Ấy là chuyện các công nhân đúc, họ vốn xuất thân cũng người-máy cả, quen cái công nghệ cổ quái này rồi, giờ đổi lại là họ chóng mặt, “chập mạch” ngay. Rồi xoay đủ kiểu để đánh bài cù nhầy. Nhất là giờ họ phải lo nhiều hơn tới cuộc sống, vì của đáng tội, lương ba cọc ba đồng sống sao nổi, nhìn ra ngoài thì đâu đâu cũng kiếm mạnh quá, họ có phát khùng lên, hay không chịu cố mà đổi từ “đúc” sang “trồng” cũng không lạ. Vừa rồi các bác mới hứa đại là mấy năm nữa thì lương họ được nâng lên mức “đủ sống”. Nói hay thế! Thế nào là đủ sống, sống dật dờ, hay sống phây phây? Thế lâu nay chả phải là họ vẫn sống, có thợ đúc nào chết đói đâu? Làm sao họ tin được. Càng rõ là ngay trong bản thân nhiều vị trong số các bác cũng không nhận ra hoặc không chịu nhận là mình có những thói quen cũ khác gì những công nhân đúc dưới mình đâu, thậm chí còn nặng hơn nhiều. Thật nan giải vô cùng!

Vậy thì thấy ngay là muốn thực sự đúc (trồng) được người-thật theo kiểu tiên tiến như bên Tây, phải bắt đầu bằng các bác lãnh đạo nhà máy, rồi tất tật các phân xưởng khác nữa đồng tâm nhất trí mới được. Đằng này các bác chỉ ở tầm quản đốc phân xưởng đúc thôi, đơn thương độc mã mà xoay xở, thì có bị nó nuốt chửng cũng chả oan. Chưa nói tới chuyện (xin lỗi các bác đừng giận) trong số các bác, nhiều vị i-qui cũng hơi bị cao, biết tỏng là chẳng đi đến đâu, nhưng thôi thì tặc lưỡi chấp nhận cống hiến theo kiểu “ngậm miệng…” là khỏe. Nên bao nhiêu năm nay cứ nghe các bác “cải cách” hết đợt này đến đợt khác xoành xoạch, mà toàn theo kiểu “giật mình,” tức là theo lối hình thức, manh mún, vội vã, chứ không có chiến lược lâu dài gì cả. Thành thử cái ngành “đúc người” càng đi vào ngõ cụt thêm, càng nhiều thêm chuyện tồi tệ trong học hành thi cử, từ các quan chức, thầy cô cho tới học trò.

Từ bé cháu đã nghe mãi lời giáo huấn “… vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy, còn người-thật khan quá. Cái lợi ích thì cũng có, nhưng nó nặng về trước mắt vài năm để phục vụ chiến tranh, chứ làm gì được tới trăm năm, cho việc xây dựng đất nước, chưa nói tới chuyện “lợi bất cập hại” thì vô cùng tận, khó mà nói ra được hết.

3. Chữa trị

Giờ thì chắc các bác sẽ mắng “thế mày giỏi thì hiến kế đi xem nào”! Vâng, cháu xin hiến kế, để chia sẻ cái cơn vật vã của các bác với công cuộc “trồng người” này.

Thứ nhất: trước hết nếu đồng ý với những lý sự này của cháu, rằng cái lối đúc người bao năm nay là nguyên nhân đem đến nhiều thói tật tệ hại, ăn vào máu mấy thế hệ, vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, dưới đủ mọi hình thức, mức độ, giờ thay đổi là vô cùng khó, vướng víu nhằng nhịt với cả thiết chế xã hội, thì các bác hẳn đọc tiếp.

Thứ hai: các bác đừng sợ là “trồng người” theo kiểu Tây thì sinh ra những loại người-thật là sẽ “khó bảo”, hay “chống đối”, là mình “mất chế độ”. Nghĩ thế là các bác không tin tưởng vào đường lối đổi mới của “trên” rồi. Còn cứ sợ bóng sợ vía, lại cả nuối tiếc cuộc sống phè phỡn với bọn giặc nội xâm, rồi đâm ra nhùng nhằng, giả vờ cải cách, chẳng kiểu nào ra kiểu nào, dở Tây dở ta chẳng những tốn kém vô cùng, mà còn đúc ra thêm những người-máy quái dị nữa thì càng gay. (Thí dụ chả đâu xa, cái bác quản đốc xưởng đúc vừa về hưu ấy, rất tỉnh, biết tỏng là mình cũng dạng người-máy, nên xin tiền nhà máy để sang Tây cho nó “trồng” lại mình thành người-thật, chả biết để về mà làm gì. Thế là sinh chuyện dở mếu dở cười). Với lại cháu đọc sách mới biết là cách nay cũng gần trăm năm rồi, các cụ tiền bối mà ta tưởng là cổ hủ đã từng khuyên là phải học Tây, Nhật cái cách “trồng người” chứ có phải không đâu. Khi nước mình còn nô lệ, có cụ còn bỏ tiền túi ra đưa khối mầm non sang Nhật cho họ “trồng” hộ, đến lúc vừa độc lập mình còn mời nhiều vị được Tây thực dân nó “trồng” về giúp đất nước giỏi phết. Chưa hết, nhiều vị còn tranh thủ học Tây tại chỗ nữa, nên trội hơn hẳn, mới được tôn lên cầm đầu cách mạng. Thế là một phần nhờ những vị này, được học Tây, Tây học mà nên người-thật, để sau đó ta cướp lại được chế độ lần nữa chứ nào có mất mát (chế độ) gì đâu.

Có điều hình như nhiều bác cũng vẫn đinh ninh, là lối đúc người này của ta lâu nay, chính là học theo “Tây” từ lâu rồi, nên cứ yên trí vậy mà theo. Nhưng các bác hơi bị nhầm. “Tây” mà ta học theo ở đây thực ra là Tây-đông, tức là nước Liên-xô, thành trì XHCN đã sụp đổ mười mấy năm nay rồi. Mà bố này sụp đổ thì ta còn chạy theo học làm gì nữa, có mà học cái bóng ma! Hay là các bác cũng muốn…?

Thứ ba: khi đã “quán triệt” hết rồi (tức là phải cả ban giám đốc nhà máy, nhiều phân xưởng cũng chịu cắn răng mà theo), thì ta phải tìm ra tất tật những biểu hiện của lối đúc người theo kiểu cũ, mà cháu mới đưa ra được có vài ví dụ ở trên thôi. Tìm quyết liệt như truy nã tội phạm ấy. Phải nhấn mạnh là nó nhiều vô cùng vô tận, chọc sâu cắm rễ cực chắc vào toàn bộ đời sống xã hội, các ban ngành đoàn thể, tác động khủng khiếp tới cái công cuộc “trồng người”. Từ những ngôn ngữ cửa miệng (ví dụ ngay như cái từ “quán triệt” cháu quen mồm mà vừa dùng ấy, cũng nên bớt đi), chữ nghĩa trên sách, báo, diễn văn, bài học, khẩu hiệu, giọng điệu nói năng hàng ngày kêu cứ choang choang (như trên vô tuyến cứ ra rả “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”, e là thứ hoa sớm nở tối tàn, nên bỏ dần)… cho đến tác phong, thái độ, hành động cư xử giữa con người với nhau, đâu đâu cũng thấy tràn ngập cái lối đúc người lồ lộ. Tiếp đến là các danh hiệu này nọ thôi thì nhiều vô thiên ủng, các đoàn thể gọi là “quốc doanh” với những bộ máy khổng lồ. Hai thứ này mấy chục năm nay tham gia vào cái công cuộc đúc người vô cùng đắc lực. Tạm gọi các đoàn thể này nó như những phân xưởng đánh bóng, mạ kền cho sản phẩm đúc. Còn những danh hiệu này nọ lại như cái nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”… Tất cả nó đi vào luôn chuyện dạy dỗ, nhìn nhận, đánh giá con người, không theo kiểu “trồng”, mà là “đúc.”

Thứ tư: khi tìm ra hết rồi, giờ mới đến cái thực sự được gọi là “tuyên chiến”. Đó là tuyên chiến với cái bệnh hoạn này trong toàn xã hội, chứ không phải chỉ riêng trong cái ngành đúc người của các bác. Mà tuyên chiến là rất nghiêm trọng rồi (như kiểu chiến tranh giữa hai nước), thì phải lập tức đưa ngay vào hệ thống luật pháp. Phải sửa luật giáo dục, luật báo chí, luật thi đua khen thưởng (nên cho luật này teo dần), luật dân sự (cả luật nhà giáo, luật về hội mà các bác đang tính làm nữa) v.v…, để có biện pháp áp chế từ kỷ luật cho tới phạt tiền, bỏ tù những ai mắc cái căn bệnh đúc người theo lối cũ. Sửa lại, thay thế hết những sách, báo, văn bản rặt những ngôn ngữ kiểu đúc người.

Có luật rồi thì phải có cái bộ máy nó chấp hành luật này. Vậy là cái tòa án để xét xử phải được coi trọng, được độc lập, phát triển mạnh vào, để cho phép học trò nó kiện cả nhà trường nếu vi phạm, chứ đừng coi đó là hỗn. Vì ta cứ hô chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ cũ thì phải chứng tỏ ra chứ.

Có hai cái này rồi, giờ nếu bố bộ trưởng nào mà có bằng tiến sĩ theo kiểu “học giả bằng thật”, nhân viên nó kiện ra tòa là mất chức như chơi. Trẻ con nó nhìn vào đó mà hãi, không dám học kiểu lếu láo nữa. Thầy cô mà lại đi hành hạ, đấm đá, cưỡng bức học trò, dạy kiểu “đọc-chép”, “làm bài văn mẫu”, “lớp mẫu”, “giờ dạy mẫu”, không chịu khích lệ tự học, tranh luận là nó cũng kiện ra tòa luôn. Quan tòa nào mà kiếm cớ không xử thì cũng bị… ra tòa luôn. Bố nào mà quen mồm, đọc diễn văn toàn kiểu “thành công rực rỡ”, “phấn khởi thi đua”, “đồng tâm nhất trí” là phạt tiền luôn, thậm chí đưa ngay vào trường để được “trồng” lại theo chương trình mới. Có thể lúc đầu thì các bác chưa quen, dễ bị ăn phạt, phải châm chước tí chút, nhưng rồi dần dần sẽ quen thôi, là ổn.

Nhưng có lẽ các bác lại bảo “phạt lắm thế, mà lương thì ba cọc ba đồng, lấy đâu mà nộp?” Ấy là cái chuyện xã hội hóa giáo dục, y tế. Khởi thủy là do các bác cứ cố, cứ vội mà chứng tỏ chế độ ta ưu việt hơn bọn Tây tư bản, vì sợ không làm nhanh thì lại “mất chế độ”, nên chơi kiểu “nhà nước lo tất”; rồi lại sợ thả ra cho tư nhân thì lại chả phổ cập được cái công nghệ đúc người, lo nó trồng người kiểu tư bản thì mình cũng “mất chế độ”. Khốn nạn là nhà nước giờ đang còn nghèo lấy đâu ra tiền mà “lo tất”. Báo hại vô cùng, “ôm tất” rồi chả còn tiền mà trả lương cho các bác để có ngày nộp phạt. Nhưng giờ bỏ kiểu đúc này rồi, mà chuyển sang trồng người hẳn hoi, thì phải nhanh chóng cho phát triển tư nhân để họ gánh đỡ cho nhà nước chứ gì nữa. Còn sợ “mất chế độ” á? Cứ sợ thế nên mới mất lòng tin, mất nhân tài, tài nguyên… thậm chí mất cả thể diện quốc gia, rồi có ngày mới mất chế độ vào tay bọn giặc nội xâm thật ấy chứ.

Nhưng cũng phải đề phòng khả năng các vị lập pháp lại không đồng lòng sửa những luật này, vì thực tình trong ngót 500 vị, thể nào cũng không thiếu những vị chịu ơn nghĩa cái lối đúc người cũ. Vậy chỉ còn cách nữa là ông chủ tịch nước ra cái sắc lệnh, bao quát hết luôn, chiếu vào đó mà thực hiện thôi.

Song song với luật (sắc lệnh) và tòa là phải có cái bộ máy để tẩy não cho người-máy, tức là tuyên truyền. Mà những bộ máy này cũng phải được quản chặt bằng luật, nếu lơ-tơ-mơ tuyên truyền theo kiểu cũ là cũng phạt. Nhất là phải cho các vị này đi học, tự học, tự đọc tử tế mà thấm nhuần, biết chọn lọc trong những giáo lý Phật, Lão, Khổng đẹp đẽ cao quý từ ngàn đời cả thế giới người ta kính nể, rồi đưa vào cuộc sống, vào nhà trường, chứ cứ để các vị “tự biên tự diễn” chế ra những lời dạy, khẩu hiệu của mình mà bắt người ta tin như là của thánh hiền bao năm nay là nguy hiểm vô cùng.

Còn chuyện nan giải nữa là những thợ đúc, đông đúc như thế mà thay đổi để họ đều biết cách trồng trọt là khó lắm. Phải đưa họ đi trồng lại thôi. Ai lo chuyện này? Đành giật gấu vá vai vậy. Đó là những thợ đúc trông đỡ giống người-máy nhất, nói trắng ra đó mới thực sự là thành phần ưu tú. Thêm nữa là khi đỡ lo “mất chế độ” rồi thì phải mạnh dạn mà thuê thợ trồng trọt bên Tây, nhất là số anh chị em định cư bên ấy thuộc diện gọi là “một bộ phận của dân tộc” về để cùng mở lớp. Ta cứ lặng lẽ mà làm thôi, đừng hô hoán là “đẳng cấp quốc tế” này nọ như lâu nay, chả lại bị phạt. Có tốn kém, thiếu kinh phí thì cứ cắt bớt ngân sách của mấy cái phân xưởng đánh bóng, mạ kền đi cũng tạm ổn, vì số này ngốn tiền là hơi bị kinh.

Thế là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, tuyên chiến với một thứ giặc giã mới từ nhà trường cho tới xã hội – giặc gian dối, giả dối, háo danh hão, hám thành tích cuội, u mê, đớn hèn… rồi sinh ra tham nhũng.

Nhưng cũng còn nhiều biện pháp lắm, chứ chả phải làm qua quít mà xong đâu, cháu cứ nôm na tạm vậy đã, để phần cho các chuyên gia của các bác lo tiếp.

Cháu xin hết và cũng xin các bác bỏ quá nếu cháu ăn nói có hàm hồ, hỗn xược, vì cháu vẫn còn non nớt như đã thưa ngay từ đầu.

Kính chúc các bác khỏe, luôn tỉnh táo để khỏi bị cái máy đúc nó nuốt chửng mất sự nghiệp.

Đăng tải tại Giáo dục | Thẻ , | Bình luận về bài viết này

Sốc…toàn tập!

Kì Duyên

Có hai hiện tượng xã hội khi xảy ra, đã làm cho những con người có lương tri bị tổn thương sâu sắc. Một hiện tượng thuộc về cái bất đức, vô luân. Một hiện tượng thuộc về cái bất tài, vô lý. Cả hai cái đều là sự góp phần…đắc lực cho sự tụt hậu một cách tủi hổ của đất nước, trước văn hóa, văn minh và phát triển.

Những “mặt nạ” người

Ngày 7/4/2012 mới đây, đọc trên VOV Online, người viết thấy con tim mình như bị bóp nghẹn. Bé N.Đ. H. H, mới 5 tuổi bị hãm hiếp nhiều lần, bị vứt bỏ trước cửa chùa Bồ Đề (Gia Lâm- Hà Nội). Toàn thân bé bị đánh bầm tím, cửa mình bị rách, chảy máu, tinh thần hoảng loạn. Ngoài ra, bé còn bị hở hàm ếch (mũi, họng thông nhau), viêm nhiễm đường thở

Đau xót nữa là bé không có lưỡi gà, không nói được. Đến mức có người đặt câu hỏi, phải chăng bé đã bị diệt khẩu?

Vào Google, đánh dòng chữ: Trẻ vị thành niên bị hãm hiếp, lập tức cho ra 894.000 kết quả trong 0,17 giây. Đủ hiểu, hiện tượng thú tính, tàn ác và suy đồi này khá phổ biến.

Và tiếc thay trong xã hội ta, trẻ vị thành niên bị cưỡng bức, xâm hại tình dục không hiếm. Căm phẫn thay, thủ phạm của các tội ác kiểu này vô cùng đa dạng, và những đứa trẻ thơ dại, đang tuổi thích búp bê đã phải chịu hệ lụy khổ đau khủng khiếp.

Thủ phạm của tội ác, có thể là một kẻ “vắt mũi chưa sạch” như Nguyễn Thành Tín, mới 15 tuổi, học sinh lớp 10 ở Tây Ninh, hiếp dâm cô bé hàng xóm, tên là L, mới 4 tuổi (7/2010).

Lại cũng có thể là…cha nuôi, như Hoàng Văn Tuấn (Hà Nội). Tuấn nhận anh em kết nghĩa với bố của bé L, 12 tuổi. Gã “bố nuôi hờ” đốn mạt này đã hiếp dâm bé L- “con nuôi” của hắn, khi bé L sang nhà “bố nuôi” chơi.

Kinh tởm và đồi bại nhất, thủ phạm tội ác nhiều trường hợp lại là cha đẻ. Hổ dữ không ăn thịt con. Nhưng những con thú dữ này đã cưỡng bức con gái ruột một cách bỉ ổi, đê tiện:

Nguyễn Văn Tài (43 tuổi, xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên), gần ba năm trời, cưỡng bức con gái của mình, bé N.K.L, mới 10 tuổi, làm “nô lệ tình dục”.

Hoàng Văn Duyến  (37 tuổi, xã Đông Sơn, thị xã Sơn Tây) xâm hại tình dục con gái ruột, bé M tới bẩy lần.

Lê Văn Trí (Đắk Lắk) sau khi uống rượu say, đã hiếp ngay đứa con gái ruột của mình, bé H, mới 5 tuổi. …

Thủ phạm của tội ác cũng có khi là … những gã thầy giáo, người có nhiệm vụ dạy “đạo làm người” cho trẻ em. Và nạn nhân không phải ai xa lạ, lại chính là các em học sinh nữ:

Ông thầy Huân (Phúc Yên, Vĩnh Phúc), cưỡng bức học sinh của mình, em H, học sinh lớp 11, khiến em này tự tử bằng thuốc ngủ (không thành), và để lại bức thư tố cáo việc làm đê hèn của “thầy Huân”.

Ông thầy Mai Thanh Phong đã sàm sỡ, xâm hại tình dục  hàng chục bé gái lớp 4, lớp 5 của Trường tiểu học B Núi Sam (thị xã Châu Đốc, An Giang). Cá biệt, có em bị xâm hại tới hai lần.

Và nổi tiếng nhất, có lẽ là vụ Sầm Đức Xương, yêu râu xanh, nguyên Hiệu trưởng Trường THPT Việt Vinh, Bắc Quang- Hà Giang. Từ thú vui bệnh hoạn của mình, Sầm Đức Xương còn trở thành đầu mối trong đường dây mua bán dâm trẻ vị thành niên..

Thủ phạm tội ác dã man không thể hiểu được, cá biệt, còn là một sĩ quan, như Nguyễn Thanh Hùng, Thượng tá quân đội, đã cưỡng hiếp bé N.K.N.Y, mới 5 tuổi (Tuy Phước- Bình Định).

Rồi mới đây, cô bé Ng, mới 12 tuổi, học lớp 7 (Bình Phước), đã bị một gã thanh niên làng bên cưỡng hiếp tới có thai 5 tháng, mà mẹ cô mới…biết. Và lại một vụ thầy giáo cưỡng bức học sinh nhân chuyện “dạy kèm” vừa được báo chí thông tin. Đó là Phạm Văn Quý, 33 tuổi, Trường THPT chuyên Quang Trung (thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước), nạn nhân là em Ng, 15 tuổi, học sinh một trường THCS thị xã… vv và…vv…

Còn rất nhiều vụ việc tội ác đối với trẻ vị thành niên nữa, không thể liệt kê.

Điều khiến những người có lương tâm đau đớn, day dứt, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết Công ước về Quyền trẻ em (1989). Và hệ thống cơ quan chức năng bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên nhi đồng rải khắp, từ trung ương đến cơ sở, từ đô thị tới nông thôn, miền núi.

Vậy mà vì sao, những bé gái nói trên, vẫn bị sa bẫy những kẻ dạ thú, bị cưỡng bức, xâm hại dã man? Nhân danh thầy giáo, nhân danh cha đẻ, nhân danh cả những người có bổn phận thiêng liêng…

Chỉ đến khi chiếc “mặt nạ người” ở những kẻ này rơi xuống, thì bẫy đã… sập. Có một loài “thú” chuyên săn… người. Tiếc thay, đó là câu chuyện nhân thế kinh hoàng thời hiện đai, không phải loại phim giả tưởng thời kỹ thuật số!

Họ có thể là những kẻ lạc loài, vô nhân tính. Nhưng một khi hiện tượng vô nhân tính, lạc loài đó đã không còn là hiếm gặp, không còn là cá biệt, thì điều đó, nói gì về nền tảng văn hóa, và đạo lý của xã hội chúng ta?

Khi những tội ác vô luân xảy ra, người ta thường đổ tại cho rượu say, cho mải làm ăn, nghèo khó bỏ bê con trẻ. Điều đó đều đúng, nhưng không thể biện hộ cho thứ đạo lý suy đồi đang gặm nhấm tận cùng tâm hồn tăm tối của chữ “người”, đang gặm nhấm không thương tiếc nền tảng đạo đức văn hóa một xã hội.

Trẻ em hôm nay, dân tộc ngày mai. Những đứa trẻ bất hạnh, còn đang tuổi làm nũng mẹ đã phải mang vết thương trong tâm hồn non dại. Liệu những vết thương đó có thể thành sẹo, để các em nhìn xã hội, nhìn những bậc cha chú, với đôi mắt lành lặn, không chút hãi sợ, phòng ngừa và cả… ghê tởm không?

Có ai hiểu được tiếng khóc kinh khiếp, ai oán của những đứa trẻ mới 5 tuổi, 7 tuổi, 10 tuổi…, bị hãm hiếp, bị cưỡng bức, bị xâm phạm tình dục không?

Hay đó cũng chính là một vết nhơ sâu hoắm của chính chúng ta?

“Khuyết điểm” hay là “sai phạm”?

Vụ “thủy chấn” Vinashin vừa có phần lắng xuống, thì cơn “địa chấn” mới lại dâng lên. Khiến người nghe chao đảo, kinh hãi, hệt như đang phải chịu rung chấn động đất 8,6 richter mới đây ở Aseh (Indonesia).

Ngày 6/4/2012, báo Thanh Niên đưa “Nhiều sai phạm lớn ở các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước”. Đọc mà… ù hết cả tai:

Trong quý 1/2012, Thanh tra Chính phủ tiến hành 25 cuộc thanh tra tại một số tập đoàn, tổng công ty lớn như: Tập đoàn dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel), Tập đoàn Hóa chất, Bộ Xây dựng (thanh tra trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nhà ở)…

Qua đó, phát hiện sai phạm, thiếu sót về kinh tế với số tiền 30.720 tỉ đồng. Kiến nghị thu hồi về cho ngân sách 3.712 tỉ đồng. Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý số tiền trên 27.000 tỉ đồng. Trong đó Tập đoàn Sông Đà và các đơn vị thành viên sai phạm hơn 10.000 tỉ đồng; Tập đoàn hóa chất VN và các đơn vị thành viên là trên 700 tỉ đồng…

Nhưng nếu người dân sửng sốt, kinh hãi vì những con số khủng  thì nhiều chuyên gia kinh tế lại kêu không lạ, vì họ cho rằng “bản chất tự nhiên của các DNNN là… sử dụng đồng tiền một cách sai trái”.

Còn một cựu Bộ trưởng thì hài hước, nhưng rất chí lý: Các DNNN của ta, khi chưa thanh tra, thì anh nào cũng kinh doanh… rất tốt. Chí lý bởi ông quá hiểu bản chất các DNNN chăng?

Lạ nhất là chuyện này: Tại cuộc họp giao ban báo chí sáng 10-4, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) Nguyễn Văn Sản, người ký kết luận thanh tra vụ việc Tập đoàn Dầu khí phê phán báo chí “rút tít giật gân”,  khi kết luận của TTCP chỉ nói khuyết điểm, chứ không phải nói là sai phạm. Rút cục, báo chí vào cuộc tranh cãi: “Khuyết điểm” khác gì “sai phạm”? (Pháp Luật TP. HCM, 11/4/2012).

Công nhận báo chí chả hiểu gì. Ngôn ngữ Việt chúng ta vốn rất nho nhã, tế nhị: Thói dối trá, gọi là bệnh thành tích. Lạm phát gọi là bội chi. Thì sai phạm phải gọi là khuyết điểm! Dù khuyết điểm, bản chất của nó là sự… sai phạm. Hì…hì..

Quan trọng hơn, phải hiểu vì sao có những con số khủng vô lý đến vậy? Vì sao các tập đoàn, tổng công ty có nhiều… khuyết điểm đến vậy mà họ không sợ? 

Theo các chuyên gia kinh tế, cả nước có 1.309 DNNN với 100% vốn Nhà nước, trong đó 701 DN thuộc địa phương; 355 DN thuộc các bộ, ngành, và 253 thuộc tập đoàn tổng công ty 91. Trong số này, 452 DN hoạt động công ích và 857 DN kinh doanh.

Các DN này nắm giữ khối lượng vốn khủng trong nền kinh tế, gồm 700 nghìn tỷ (cuối 2010), tương đương 35 tỷ USD, trong đó chủ yếu là tập đoàn, tổng công ty Nhà nước.

Các tập đoàn, tổng công ty được coi là con trưởng của nền kinh tế – nên sự sinh tử của nó gắn liền với sự sinh tử của nền kinh tế đất nước.

Mặt khác, các tập đoàn, tổng công ty luôn có quan hệ chặt chẽ hữu cơ với người hoạch định chính sách, các cơ quan và công chức Nhà nước có thẩm quyền ra các quyết định đầu tư, kinh doanh và cả nhân sự của họ. Đây có thể nói là một đặc điểm đáng chú ý. Sự thành bại của các tập đoàn, tổng công ty sẽ ảnh hưởng đến vị thế các cơ quan, công chức có liên quan, đến chính sách đầu tư.

Nên nếu có làm ăn thua lỗ thất thoát, do đầu tư dàn trải ngoài ngành, do quản lý “tiền chùa” lỏng lẻo, do…bất tài nữa, nó cũng không thể chết. Và nếu có hấp hối, nó sẽ được tiếp tục hà hơi tiếp sức. Khổ cho nó, khổ cho dân

Cũng vì thế, tái cấu trúc kinh tế là con đường tất yếu, nhưng hành trình này cũng rất chật vật. Bởi có tập đoàn, tổng công ty nào muốn từ bỏ đặc quyền, đặc lợi của mình không?

Thế nên, các tập đoàn, các tổng công ty đua nhau ngâm vịnh: “Khuyết điểm là tại…hướng đình/ Cả làng khuyết điểm có mình tớ đâu”

Chợt nhớ tới định luật bảo toàn vật chất: Vật chất không tự sinh ra cũng không tự mất đi. Nó chỉ chuyển thể từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Hơn 30.700 tỷ đồng khuyết điểm cũng vậy, nó không hề biến đi, nó chỉ chuyển từ túi nọ sang túi… kia thôi.

Hỏi: Tiền đâu để đắp cho những cái lỗ khủng như vậy?

Trả lời: Dân đóng chứ ai! Dân là “cái túi Thạch Sanh” trong truyện cổ tích Thạch Sanh- Lý Thông mà!

Thế thì có phải là “cưỡng chế”… người thành niên?

Đăng tải tại Uncategorized | Thẻ | Bình luận về bài viết này

Nghỉ Hè

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã đến
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về
Chín mười ngày nhảy nhót ở miền quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.
Một nét mặt trăm tiếng cười rộn rã
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu
Chờ đêm nay, sáng sớm bước lên tàu
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.

Trong khoảng khắc sách bài là giấy cũ
Nhớ làm chi – Thâỳ mẹ đợi, em trông
Trên đường làng huyết phượng nở thành bông
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.

Kiểm soát kỹ có khi còn thiếu sót
Rương chật rồi khó nhốt cả niềm vui
Tay bắt tay hôn không chút bùi ngùi
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.
Xuân Tâm

Đăng tải tại Thơ | Thẻ | Bình luận về bài viết này

Dương Thu Hương – Thư ngỏ gửi bạn đọc và nhà báo Huy Đức

Phần 1 :

Trước hết, tôi xin lỗi độc giả vì hai nhầm lẫn trong bài viết “Để gọi tên sự vật một cách rõ ràng”:

1. Nguyễn Văn Hưởng tức Trần, sinh năm 1945, thứ trưởng bộ nội vụ, tổng cục trưởng tổng cục I không phải là đại biểu quốc hội.

2. Cha đẻ của công chúa Mỵ Châu là An Dương Vương Thục Phán chứ không phải Triệu Đà.

Sự nhầm lẫn thứ nhất do nhà báo Huy Đức phát hiện nên tôi phải cảm ơn ông cũng như phải chân thành xin lỗi ông nghị Trần Văn Hưởng (không là thứ trưởng bộ nội vụ, không có biệt danh Trần, và không nhảy lên bụng cô Hồ Thu Hồng).

Sự nhầm lẫn thứ hai được phát hiện do một người bạn đang sống tại Pháp và đối với tôi sự phát hiện này là vô cùng quan trọng vì nó là hồi còi báo động cho tôi biết đã đến lúc tôi phải rút khỏi vũ đài: tuổi già đã tấn công tôi.

Do đó, bài báo này sẽ là bài cuối cùng tôi viết để tham góp vào cuộc đấu tranh chung. Tuy nhiên, trước khi chia tay vĩnh viễn, tôi sẽ có đôi lời với độc giả, trước hết là đối với các anh em đang tiếp tục cuộc đấu tranh dầu sôi lửa bỏng này.

Sự nhầm lẫn gán ghép chức ông nghị cho Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tuy đáng tiếc nhưng còn có thể tha thứ vì sự trùng lặp cả tên lẫn họ là vô cùng hiếm hoi. Bản thân tôi cũng từng chịu cảnh này. Tôi vốn coi chính phủ Việt Nam là ổ tham nhũng bẩn thỉu mà trong đó, người lương thiện không có chỗ đứng. Vậy mà lại có một bà Dương Thu Hương chẳng những trùng tên mà còn trùng cả tuổi làm thống đốc ngân hàng, nghĩa là một chức quan không nhỏ trong cái hệ thống những kẻ đục khoét ấy. Khi mẹ bà thống đốc ngân hàng này chết, bạn hữu và anh em dân chủ mang hương hoa đến… viếng mẹ tôi trong khi bà cụ đang ngáy khò khò trên gác. Tôi ngỡ rằng trò chơi cắc cớ này chỉ xảy ra như là sự duy nhất, ai dè còn có trường hợp thứ hai.

Trái lại, sự nhầm lẫn giữa Triệu Đà với An Dương Vương là không thể và không đáng tha thứ. Đó là một sai lầm không thể biện minh: Không ai có thể biện minh cho tuổi già.

Ông tướng Charles De Gaulle có một định nghĩa “Tuổi già là sự chìm tầu”.

Đối với tôi, tuổi già là cây cầu thang dẫn từ ngôi lầu của cuộc sống xuống tầng trệt, nơi nấm mồ đang chờ sẵn. Ta trượt từng nấc trên cây cầu thang định mệnh, rụng rơi dần. Rụng tóc, rụng răng, da dẻ nhăn nheo dăn rúm, hình hài méo mó đi: hoặc nó teo tóp lại như con mắm lẹp, hoặc nó phì ra từ từ để biến thành một cái bị gạo rồi sau rốt, lăn tòm xuống huyệt.

Nhưng sự huỷ hoại thể chất cũng chưa đáng kể bằng sự mất mát này: chúng ta mất dần trí nhớ và sự sáng suốt. Não chúng ta sẽ vận hành với một tốc độ chậm chạp, khật khưỡng như bước đi của người thọt, bởi vì với tháng năm, rất nhiều lỗ hổng xuất hiện trong trí nhớ.

Cổ Loa là nơi tôi qua lại không biết bao nhiêu lần, Mỵ Châu và An Dương Vương là những cái tên từng gây biết bao xúc động trong tâm hồn tôi, vậy mà trong bài báo vừa rồi, tôi lại nhầm tên ông bố chí tình và rủi ro của nàng Mỵ Châu với ông vua Triệu Đà, kẻ thù của Thục Phán An Dương Vương, bố đẻ Trọng Thủy, kẻ đã dùng nam nhân kế để cướp nước Âu Việt.

(Từ trái) Đông Trình, Nguyễn Duy, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Lập. tại Đại hội Nhà Văn Việt Nam 1995 tại Hà Nội. Nguồn ảnh: Tư liệu văn học của gia đình Nguyễn Hữu Hồng Minh

Một sự nhầm lẫn kì cục đến như vậy chỉ có ông Trời mới tạo ra được thôi, và biết rằng không ai có thể chống lại luật trời, tôi sẽ thực hiện mệnh lệnh của thiên nhiên với sự ngoan ngoãn tuyệt đối: rút lui.

Các đồng đội, những người đấu tranh cho dân chủ sẽ chất vấn:

– Chị đã hứa sẽ đứng cùng chúng tôi cho đến hơi thở cuối cùng, bây giờ chị bỏ cuộc, chị nuốt lời?

Tôi trả lời:

– Tôi không nuốt lời, tôi cũng không bỏ cuộc, nhưng tôi sẽ góp sức vào cuộc đấu tranh bằng cách khác, tương hợp với khả năng, trừ phi tôi mắc bệnh Alzheimer.

Có thể họ sẽ nói:

– Chỉ có những lão già tham quyền cố vị mới bị người đời nguyền rủa, chị không quyền không chức, hà cớ chi phải rút lui? Dù già lão, dù bước đi khập khễnh chị cũng còn giúp được đôi chút, không nhiều thì ít trong cuộc đấu tranh này.

Tôi xin trả lời rằng:

– Những kẻ quyền cao chức trọng bám lấy cái ghế của họ vì những cái ghế ấy làm nảy ra những thỏi vàng, còn tôi, khi dấn thân vào tranh đấu, chỉ được hưởng tù đầy, đe dọa, tước đoạt, nhục mạ và vu khống. Họ và tôi đứng hai bên chiến tuyến. Nhưng chúng tôi có một điểm chung: thân phận người. Đã là con người thì phải suy tàn với thời gian. Hành động thuận theo lẽ trời thì không gây tổn thất cho đời mà cũng không đem lại sự hổ thẹn cho mình. Xứ sở chúng ta đã có quá nhiều người già chống lại lẽ trời, hành động không tính đến liêm sỉ, nói theo lối dân dã: già mà không biết nhục, tôi không thể làm thêm một con số cộng để đứng chung với bọn họ.

Như vậy, mọi sự đã rõ ràng.

Bây giờ, tôi xin trả nốt món nợ cuối cùng, trước khi đặt dấu chấm hết.

Nhà báo Huy Đức có trách tôi, đại ý là tại sao lại bàn quá nhiều về cô gái bao Hồ Thu Hồng, con người này không đáng để tốn nhiều bút mực.

Có thể ông Huy Đức đúng, theo cách suy nghĩ cổ truyền của các nhà nho Việt Nam, nhưng cũng có thể ông Đức sai, nếu tính theo hiệu quả.

Khi chúng ta mô tả một con cái ghẻ nó có mấy cái chân, nó hút máu theo cách nào, nó đào hang và sinh đẻ ra sao… không phải vì chúng ta quan tâm đến bản thân con cái ghẻ mà vì chúng ta quan tâm đến làn da đang bị ghẻ. Làn da ấy chính là hiện trạng của xã hội chúng ta đang sống giờ đây.

Bất cứ xã hội nào cũng được xem xét dưới hai góc độ: thành phần tinh hoa và đại bộ phận dân chúng. Hai bộ phận này không nhất thiết phải liên quan theo cùng một tỷ lệ trong mọi xã hội và mọi thời đại. Nhưng để hiểu một quốc gia, một xứ sở, một dân tộc, bắt buộc ta phải phẫu tích hai thành phần nói trên.

Tôi không cho cô Hồng là một trí thức đích thực, bởi có cố gán cho cô ta chức danh ấy cũng chẳng ai tin, nhưng sự thực là cô Hồng đang giữ chức tổng biên tập của tờ báo Thể Thao TpHCM, vậy thì muốn hay không cô Hồng cũng được xếp vào hạng tinh hoa xã hội. Cứ cho rằng cái ghế này cô có được là nhờ uy lực của tình nhân Nguyễn Văn Hưởng tức Trần, nhưng bấy lâu nay thiên hạ vẫn chấp nhận vị trí này theo cách chính danh, vậy qua đó, liệu ta có thể nhận thức được chất lượng xã hội hay không?

Hồ Thu Hồng là gái bao. Gái bao và gái điếm là nghề bán dâm, hoặc theo thời hạn dài, hoặc theo từng cú. Theo lẽ thường, đã hành nghề này thì phải náu mình trong bóng tối, bởi kẻ mua dâm có một gia đình với tất cả các mối liên hệ chằng chéo xung quanh nó. Y có một người vợ mà y không thể bỏ, bởi bà ta là những cơn si mê ân ái đầu đời, người đã chia xẻ với y những ngày cơm rau muối và là mẹ của những đứa con y, y có những đứa con và những đứa này sẽ phải lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái. Không một ai muốn thấy chồng mình, bố mình, ông nội hay ông ngoại mình chường mặt ra ở nơi nhà thổ, bởi hình ảnh đó sẽ gieo những tổn thất không thể cứu vãn.

Vì những lý do cổ truyền ấy mà ngay ở nơi tự do tình ái có thể trượt quá đà như nước Pháp, cũng chẳng có một thứ gái bao nào kêu ổng ổng lên khoe khoang “chiến lợi phẩm” như cô Hồ Thu Hồng. Sự khoe khoang này chỉ có thể xảy ra do hai duyên cớ:

– Hoặc một sự vô liêm sỉ ngoại hạng, ca tối ư đặc biệt.

– Hoặc một bộ não vô năng mà sự vận hành hoàn toàn tuân theo chỉ thị của cái dạ dày và phần dưới rốn. Tôi định nghĩa vắn tắt hơn: suy nghĩ bằng dạ dày và hai quả cật.

Tôi không rõ cô Hồng thuộc loại nào, nhưng tôi đề nghị nhà báo Huy Đức suy nghĩ lại: Thứ nhân cách như vậy được xếp vào bộ phận tinh hoa thì xã hội của chúng ta được xếp vào loại nào, và điều ấy liệu có khiến mọi người hổ thẹn hay không?

Sự hổ thẹn là một trong các phẩm tính của con người, theo nghĩa chân chính của từ này. Nó là kết quả của quá trình giáo dục và sự tự nhận thức, là rào cản vô hình để nhắc nhở con người dừng lại một khi các ham muốn không lành mạnh thúc đẩy họ. Khi cái bộ phận kiềm chế dục vọng này bị mất đi, con người sẽ trượt xuống dốc như chiếc xe không phanh, vô thức hay hữu thức.

Vô thức, nếu họ không đủ trí khôn để hiểu sự việc. Hữu thức, khi họ không chống nổi bản thân: quyền, tiền, tình dục trở thành các ông chủ tuyệt đối khống chế họ. Theo sự quan sát của tôi từ mấy chục năm nay, sự hổ thẹn là thứ thiếu vắng nhất trong xã hội Việt Nam, điển hình ở tầng lớp lãnh đạo. Xin nhắc lại ba sự kiện gây ấn tượng đặc biệt đã khắc sâu vào trí não tôi.

Một.

Trước khi bị bắt (1991) vài năm, tôi giao du với một số đại biểu quốc hội. Một lần, họ kể rằng ông Đỗ Mười lên đọc diễn văn, nửa chừng, bỗng nhiên sửa gọng kính chăm chú cúi xuống nhìn văn bản rồi dõng dạc nói: “A! Chỗ này chúng nó bảo nghỉ”.

Không cần giải thích, bạn đọc cũng sẽ hình dung ra sự việc. Diễn văn do thư kí viết, người này hẳn biết rõ trình độ ngôn từ của thượng cấp, với nhã ý giúp cho nghệ thuật hùng biện của nhà cầm quyền được nâng cao nên ông ta chua dấu “(nghỉ)” để nhắc nhở đấng bề trên. Chẳng ngờ đức vua dốt đến mức đọc oang oang “A! Chỗ này chúng nó bảo nghỉ” trên diễn đàn.

Nghe xong chuyện, tôi hỏi “Thế lúc ấy, mọi người phản ứng ra sao?” Hai nghị sĩ này cười bảo “Cúi đầu bấm bụng cười chứ còn biết làm sao”. Tôi hỏi tiếp “Vua ngu thế mà các quần thần không biết hổ thẹn à?” Họ im lặng.

Chúng ta biết danh từ “nghị gật” vốn đã có từ lâu, không cần đợi đến thứ “đại biểu quốc hội” của chế độ này. Nó là sản phẩm ở những xã hội mà nền dân chủ thực sự chưa hiện diện.

Hai.

Năm 1986, ông Tố Hữu bay mất chức phó chủ tịch thứ nhất phụ trách kinh tế, bởi trong năm năm cầm quyền (1981-1986) ông đã dẫn đất nước đến tình trạng lạm phát, cơn lạm phát này khiến toàn dân phẫn nộ bởi trong chốc lát họ trở thành kẻ trắng tay.

Hồi đó, một bà già khóc lóc bảo tôi “Mấy chục năm trước bán nhà, nghe chính phủ dụ dỗ gửi tiền vào ngân hàng, đổi tiền đi đổi tiền lại, giờ cả cái nhà gỗ năm gian chỉ còn đủ mua một gói mì chính 500 gram”.

Tuy nhiên, mất chức cũ ông Tố Hữu lại chuẩn bị để leo lên chức cao hơn: tổng bí thư, theo thông lệ đá hất lên của đảng.

Thế nào là đá hất lên? Tôi sẽ giải thích vắn tắt vì biết rằng các thế hệ sinh sau không hiểu nổi ý nghĩa của cụm từ này.

Đá hất lên nghĩa là bổ nhiệm một kẻ vừa bị huyền chức do các lý do vô năng hoặc vô đạo đức (ăn cắp, ăn cướp, giả mạo giấy tờ, ngủ với vợ người khác…) ở một chức cao hơn, quan trọng hơn, nhiều lợi nhuận hơn chức vừa mất.

Ví dụ: Vụ phó tại bộ văn hoá vì hủ hoá mà mất ghế thì sau đó vài tháng sẽ được bổ nhiệm làm Vụ trưởng tại Bộ Giao thông vận tải. Hoặc là, cục trưởng thuộc bộ Y tế phạm tội tham nhũng thì sau thời gian “kỷ luật đảng” sẽ được đẩy lên thành thứ trưởng Bộ Ngoại thương, vân vân và vân vân…Vì sao?

Vì mọi thay đổi nhân sự đều nằm trong tay Ban tổ chức đảng, trực tiếp dưới sự chỉ huy của ông Lê Đức Thọ, mà ông Thọ, như mọi người đã biết, để củng cố quyền lực bản thân nên chỉ bổ nhiệm những kẻ tuyệt đối trung thành với ông ta. Vì thế, dù phạm tội nặng đến đâu, nhưng sau vài tháng làm kiểm thảo, đám cán bộ phạm tội đều được Anh Lớn đưa lên bệ phóng để tiếp nhận các chức vụ quan trọng hơn, nắm trong tay nhiều quyền lực hơn. Lối bổ nhiệm kiểu này tiếp thu từ các triều đình xưa (thuật dụng Nhân) và từ các băng mafia thời hiện tại.

Như thế, ông Tố Hữu sau khi ngã ngựa, liền hăm hở bắt tay vào việc chuẩn bị một cú “đá hất lên” bởi lúc ấy ông Lê Duẩn tỏ ra vô cùng sủng ái nhà thơ Huế. Để bày tỏ lòng trung thành với ông Lê Duẩn, ông Tố Hữu hạ lệnh cho ban tuyên giáo dẹp những lời ca ngợi “ông cụ” (Hồ Chí Minh) mà chuyển sang ca ngợi anh Ba (Sáng suốt như “nghìn ngọn nến” là biệt danh ông Lê Đức Thọ đặt cho ông Lê Duẩn từ đầu thập kỉ 60 để đánh dấu mối liên minh nhằm hạ bệ ông già họ Hồ).

Cùng với việc thay đổi thần tượng, ông Tố Hữu liên tục đi thăm các tỉnh để mở chiến dịch vận động cho mình. Một trong các địa điểm đầu tiên ông đến thăm là Hải Phòng, lúc đó ông Đoàn Duy Thành đang giữ chức bí thư thành uỷ. Trong chuyến du ngoạn thành phố Hoa phượng đỏ nhà thơ lớn khoan khoái công bố bài thơ mới, trong đó có câu:

“Làm ăn” – hai chữ, à ra thế!

Bài thơ ấy được ngâm đi ngâm lại không nghỉ trên đài phát thanh với giọng thánh thót của các nghệ sĩ ưu tú nhất quốc gia. Mỗi lần nghe, một lần tôi sởn gai ốc. Tôi đang sống trong một chế độ mà những kẻ có quyền định đoạt số phận non sông là hạng người hoàn toàn vô năng và vô sỉ. Một ông quan đầu triều, kẻ nắm trong tay nền kinh tế quốc gia nghiễm nhiên công bố rằng ông ta không có chút hiểu biết nào về kinh tế, và sự ngu dốt này lại được trưng bầy một cách vô cùng duyên dáng qua con đường…nghệ thuật.

Thêm nữa, sau các tổn thất tầy trời gây cho dân chúng, ông quan này không mảy may hổ thẹn, không một ly sám hối, tiếp tục cuộc vận động để leo lên một chiếc ghế cao hơn. Nếu các công dân Việt Nam có ý thức, ắt họ phải rùng mình vì bấy lâu nay họ đang lênh đênh trên một con tầu mà các hoa tiêu là một đám người nham nhở suốt đời không hề đặt tay lên bánh lái.

Hoàn toàn vô năng và biết mình vô năng mà nhơn nhơn nắm quyền lực, hành xử đó vừa biểu đạt sự khinh bỉ dân chúng vừa chứng tỏ sự khinh bỉ chính mình. Nơi nào lòng hổ thẹn vắng mặt thì sự vô liêm sỉ lên ngôi. Sau các thất bại nghiêm trọng trên lĩnh vực tài chính, ông Tố Hữu không hề mở miệng nói một lời xin lỗi dân, đảng của ông ta cũng vậy.

Chỉ có ở một xứ sở điên như Việt Nam hoặc các nước trung phi vừa thoát thai từ tình trạng bộ lạc mới có loại lãnh đạo kiểu này. Chúng ta, những người được gọi là nhà văn nhà báo trong một quốc gia như thế, chúng ta có nên nhục hay không hở ông Huy Đức?

Ba.

Trước kia, cảng Hải Phòng là cảng quan trọng số một của đất nước, bởi hàng hoá xuất hay nhập đều dồn vào đó (đương nhiên, hàng nhập khẩu là chính). Khu vực nhà kho của cảng là khu vực được bảo vệ nghiêm cẩn nhất vì đó là tài sản quốc gia, đồng thời cũng là nơi tiếp nhận hàng viện trợ quân sự (vũ khí và quân trang).

Vào ngày mà hoả hoạn xảy ra tại Khu Nhà kho này, một cuộc hoả hoạn lớn chưa từng thấy, gây tổn thất vô cùng nghiêm trọng cho nhà nước, ông thủ tướng Phạm Văn Đồng đi xuống thực địa để quan sát. Hành động duy nhất của ông ta là khóc! Ông khóc ròng rã hồi lâu, chẳng nói một lời, trước sự im lặng của đám người tháp tùng và đám cán bộ phụ trách cảng.

Vì sao ông khóc? Chắc hẳn ông biết rằng vụ hoả hoạn này không thể xẩy ra do sơ sót ngẫu nhiên mà trái lại, nó được chuẩn bị một cách chu đáo trước khi thực hiện. Ai có thể làm được việc đó nếu không phải chính người của guồng máy quyền lực? Ăn cắp, sau đó gây hoả hoạn để phi tang.

Thủ đoạn này được nhắc lại nhiều năm sau tại Sài Gòn, nếu ai có trí nhớ tốt hẳn chưa quên vụ cháy ngôi lầu nhiều tầng, đó là khu trung tâm thương mại thành phố.

Sau khi khóc chán chê, trên đường về, ông Đồng thú nhận với các nhà báo tháp tùng rằng tuy là thủ tướng nhưng ông ấy chẳng có thực quyền, rằng ông ấy rất đau lòng nhưng chẳng biết làm gì cả…

Thông thường, các chính trị gia thích sắm vai khôn ngoan (sự khôn ngoan được chuẩn bị thường trực để trưng bầy) và đạo đức (đa phần là giả mạo). Họ cũng tìm mọi cách che dấu khuyết tật của mình. Ông Phạm Văn Đồng trong phút xúc động đột xuất bộc bạch tâm tư. Kể ra, về phương diện con người, thế cũng đáng khen. Chỉ tiếc rằng sau khi thú nhận mình sắm vai con rối, rằng mình nhu nhược, vô năng, ông ấy vẫn tiếp tục ngồi ghế thủ tướng hàng chục năm nữa mà không mảy may có ý định về hưu, tưới hoa hồng, vun gốc mai như nhiều vị quan có tư cách thời xưa.

Như thế, hàng chục năm đất nước tiếp tục bị điều hành bởi một đám nha lại núp sau áo ông thủ tướng bù nhìn, bị đục khoét bởi các vụ tham nhũng mà ông thủ tướng bất lực kia không hề hay biết và sự thối rữa của bộ máy quyền lực xảy ra một cách bạo hành mà chẳng một ai đứng ra giải quyết.

Thưa bạn đọc, ba ví dụ trên liệu đã đủ để chứng mình rằng sự hổ thẹn đã thường xuyên vắng mặt trên đất nước chúng ta? Rằng sự vắng mặt này đã xẩy ra từ lâu, từ rất lâu, mà không một ai để ý đến?

Vì sao có tình trạng này ?

Vì hai duyên cớ.

– Tính cường bá và lòng tham lam vô tận của kẻ cầm quyền.
– Sự cam chịu đến tê liệt của dân chúng.

Dân ta thường tự hào rằng mình đã thắng hai đế quốc lớn, mà quên rằng mục đích mọi cuộc tranh đấu đều chỉ nhằm mang lại tự do và hạnh phúc cho con người. Nếu không đạt được hai mục tiêu ấy, mọi cuộc đấu tranh chỉ là trò xẻo thịt, cắt đầu hoàn toàn vô nghĩa. Thế giới phương Tây quan sát xứ sở chúng ta, và họ liệt Việt Nam cũng như nhiều nước châu Phi vào loại nước hậu thuộc địa mà hiện tượng không tránh khỏi là hiệu ứng gương.

Thế nào là hiệu ứng gương?

Gương, theo nghĩa thông thường biểu hiện trung thành hình ảnh nó phản chiếu (loại trừ loại gương đặc biệt làm méo hình ở các nơi giải trí). Nếu mặt bạn tròn thì hình ảnh trong gương sẽ tròn, nếu bạn có chiếc nốt ruồi trên cánh mũi thì nốt ruồi đó sẽ hiện đúng vị trí ấy trên mặt bạn khi soi gương.

Hiệu ứng gương đối với các nước hậu thuộc địa là sau khi giành lại được độc lập từ tay các thực dân như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… các chính quyền bản địa lại lặp đúng hình mẫu cũ. Có nghĩa là họ sẽ trở thành những tên thực dân cai trị dân tộc họ, nhiều khi còn độc ác hơn bọn thực dân chính thống do đặc tính cường hào, chánh tổng, tù trưởng bộ lạc (kẻ cầm quyền trong các cộng đồng nhỏ, cách biệt nền văn minh chung) thêm vào đó là lối hành xử dã man của những kẻ chưa có ý thức về quyền con người.

Anh em đấu tranh cho dân chủ đều biết tướng Trần Độ, khi còn sống đã nói “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì bọn tớ chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục”.

Lời nhận xét này là một trong những lý do mà chế độ Hà Nội căm ghét ông, đương nhiên, cũng là lý do để chúng tôi cảm phục ông. Sự thành thật là điều vô cùng hiếm hoi dưới chế độ cộng sản.

Tại sao hiệu ứng gương xảy ra ở Việt Nam cũng như nhiều nước châu Phi?

Có nhiều lý do, nhưng lý do căn bản nhất là dân trí thấp. Để dễ dàng nô lệ hoá dân chúng, nhà cầm quyền Hà Nội đã áp dụng chính sách ngu dân một cách tối đa. Thời tôi còn trẻ, không một ai được nghe radio ngoại quốc, toàn dân chỉ được nghe đài Hà Nội, và lời lẽ của kẻ cầm quyền là nguồn thông tin duy nhất mà họ buộc phải chấp nhận. Chỉ các cán bộ cấp cao mới được ưu tiên nghe đài… Trung Quốc.

Về mặt vật chất, hẳn nhiều người còn nhớ những thập kỷ triền miên dân chúng sống với mớ tem phiếu, với các khẩu phần thức ăn của súc vật, với tình trạng bị đầy ải, bị hành nhục vì mỗi miếng ăn.

Khi con người bị vây hãm giữa nỗi thiếu thốn trường niên và một đời sống tinh thần ảm đạm, họ không thể trở thành con người thật sự, bởi toàn bộ nghị lực và thời gian của họ chỉ dùng để vật lộn với sự bần hàn. Họ không sống mà sống sót. Từ tình trạng sống sót lay lắt này, họ sẽ dễ dàng thoả mãn một khi cái bụng được đầy hơn, manh áo mặc được ấm hơn.

Ở châu Phi, nơi cái đói rình rập thường xuyên, điều này dễ dàng minh chứng. Ở Việt Nam, sau hai cuộc chiến tranh, sau rất nhiều chết chóc, thương vong, bệnh tật, người ta dễ dàng đi đến sự chấp nhận này: “Miễn là được sống!”, “Dẫu sao cũng còn hơn thời chiến tranh, sốt rét quanh năm, ăn rau rừng xanh rớt mặt”.

Đó là một hiện thực mà chúng ta dẫu muốn chối bỏ cũng không được. Hiện thực đó là một miếng mồi ngon, một mỏ vàng lộ thiên mà kẻ cầm quyền không bỏ lỡ cơ hội, họ đã khai thác triệt để tâm lý tiêu cực này. Sự thèm khát một đời sống an toàn luôn luôn dẫn dân chúng đến sự hèn nhát, từ hèn nhát đến hèn hạ là một khoảng cách không xa.

Từ những năm 1780, cách chúng ta hơn hai thế kỉ, nhà cách mạng Pháp Jean-Paul Marat đã nói rằng “La trop grande sécurité des peuples est toujours l’ avant-coureur de leur servitude”.

Dịch đại khái là “Sự an toàn thái quá của dân chúng là kẻ dẫn đường cho sự nô lệ của họ”.

Khi đọc những dòng này, tôi không khỏi chua xót. Chúng ta đang ở giai đoạn mà các dân tộc văn minh đã bỏ qua từ hai trăm năm trước.

Nhưng chấp nhận sự thực không có nghĩa là cam chịu sự thực đó như một hiển nhiên. Một dân tộc chậm tiến muốn thoát khỏi tình trạng ấy trước tiên phải đủ dũng khí nhìn thẳng vào sự nhục nhã của mình. Không biết hổ thẹn, không có cách nào thay đổi được số phận. Tình trạng thiếu vắng sự hổ thẹn của những người cầm quyền Việt Nam xảy ra lâu nay là do, trước hết, cơ cấu xã hội độc quyền tạo nên và dung dưỡng tâm lý tham lam, kiêu ngạo. Thêm nữa, bản thân họ không có khái niệm về tinh thần trách nhiệm, không được giáo dục đầy đủ để thấu hiểu lòng tự trọng cũng như tính liêm sỉ. Sau cùng, vì dân chúng im lặng cúi đầu. Sự im lặng này chỉ có thể giải thích bằng hai lý do: hèn nhát và ngu dốt.

Hèn nhát, bởi chính phủ cộng sản đã thế chân những tên thực dân Pháp mà cai trị họ, theo một hình mẫu còn khốc liệt hơn, tàn bạo hơn hình mẫu cũ. Sự cai trị này khiến dân chúng tê liệt vì sợ hãi. Người Việt Nam vốn là những người lính dũng cảm trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm lại là những công dân hèn nhát trước sự hà hiếp của những tên thực dân cùng nòi giống, bởi vì họ chưa hiểu biết về quyền công dân cũng như quyền con người.

Ngu dốt, bởi từ hàng ngàn năm nay họ bị ảnh hưởng một cách sâu sắc đạo Khổng. Lý thuyết của Khổng tử là loại dây trói bằng mây, vô cùng dai, buộc họ vào một hệ thống giá trị lỗi thời, nói chính xác hơn, một hệ thống giá trị phản động.

***

Phần 2 :

Nếu độc giả lật lại mớ báo cũ từ những năm 80, sẽ gặp mục “Thư bạn đọc”. Thời ấy, dù không phải người đọc báo thường xuyên nhưng cũng đã hai lần tôi bắt gặp tại mục trên, thư của các đảng viên kì cựu. Họ than thở, họ phàn nàn về tình trạng tham nhũng, về sự hà hiếp dân chúng của đám cán bộ sở tại, họ tha thiết đề nghị đảng sửa đổi chính sách, chấn chỉnh nội bộ và sau khi cầu khẩn bề trên dòm ngó lại đạo đức, họ cam kết lòng trung thành của mình bằng câu “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”.

Khi đọc những dòng chữ này, tôi lặng đi vì kinh hoàng và mặt tôi nóng như hơ lửa vì nhục nhã. Dù đã biết từ lâu rằng dân ta bị ràng trói bởi các quan niệm phong kiến (điều này xảy ra trong chính gia đình tôi và tôi là nạn nhân đầu tiên), nhưng dẫu sao, tôi cũng không hình dung được cái di sản thối rữa kia còn khiến con người u mê đến thế.

Sau khi suy ngẫm, tôi đành công nhận rằng đạo Khổng đã trở thành khối u di căn trong xã hội Việt Nam, một căn bệnh nan y mà các con bệnh hoàn toàn không hay biết. Trong thâm tâm, các đảng viên coi đảng là vua hoặc thay thế vua nên họ phải thề thốt lòng trung với đảng. Rủi ro là vua cũng như chế độ phong kiến đã bị chính những người cộng sản tiêu diệt, nên sự dịch chuyển này lặp lại lần thứ hai: từ đảng trở thành cha mẹ hoặc ông chủ. Trong bối cảnh đó, các đảng viên cũng như các công dân nghiễm nhiên sắm vai con hoặc vai chó. Quá trình hoán chuyển trên xảy ra một cách hoàn toàn vô thức. Đa phần các đảng viên cộng sản mở miệng là tuôn ra những từ sáo rỗng như dân chủ, cộng hoà… nhưng thực chất họ chẳng có một mảy may hiểu biết về những điều họ nói. Đó là sự mỉa mai của lịch sử mà giờ đây nhìn lại, mỗi chúng ta không tránh khỏi đắng cay.

Ngày ấy, để có thể tiếp tục sống và đấu tranh, tôi đã tự an ủi “Những đảng viên này đều sinh vào những năm 1920-1930, họ bị trói buộc bởi đạo Khổng. Đạo Khổng dạy con người làm nô lệ một cách thành công. Ta hy vọng ở các thế hệ tiếp nối”.

Tuy nhiên, hơn hai mươi năm sau, tôi biết mình nhầm. Sự mê muội này không chi phối riêng các thế hệ sinh vào những năm 20, 30 của thế kỉ XX mà nó có ảnh hưởng rộng lớn hơn tôi dự tưởng. Vào khoảng 2002, hay 2003 gì đó, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ XXI, tôi được xem cuộc phỏng vấn ghi hình của một nhà báo nước ngoài, trong đó có sự hiện diện của bà Nguyễn Thị Hồng Ngát.

Bà Ngát vốn là biên kịch cùng xưởng phim truyện số 4 Thụy Khê với tôi, sau nhờ sự nâng đỡ của ông Nguyễn Khoa Điềm mà lên làm cục phó, trong cuộc phỏng vấn ghi hình nói trên, bà Ngát cũng tuyên bố: “Con không chê cha mẹ…”.

Tới đó, tôi rùng mình. Bà Ngát sinh năm 1950 hoặc 1951, đã từng học trường điện ảnh Vờ-gich ở Nga bốn năm, được liệt vào loại văn nghệ sĩ (tầng lớp tinh hoa của xã hội). Một người ở vào lứa tuổi ấy, nghề nghiệp ấy, mà điềm nhiêm coi quan hệ của mình với kẻ cầm quyền là con đối với cha mẹ hoặc là chó đối với chủ thì tình trạng thối nát hiện hành của Việt Nam là không tránh khỏi.

Một đất nước muốn phát triển phải có các công dân hiểu biết về phận sự và quyền lợi của mình, đảm nhận trách nhiệm của mình trước bản thân, gia đình và xứ sở. Người ta không thể xây dựng một nền văn minh với những kẻ có trí não con sen và tư cách thằng ở. Không ai có thể tạo nên một quốc gia hùng mạnh với những kẻ đi bằng hai chân nhưng trong thâm tâm lại chấp nhận mình là chó.

Bởi một khi đã chấp nhận mình là chó thì chẳng bao giờ có thể hiểu và đạt được cuộc sống thực sự của con người.

Không phải ngẫu nhiên mà nhân loại đã rút ra kết luận này “Dân chúng nào, chính phủ ấy”.

Tôi là người Việt Nam, tôi không sung sướng gì khi nói ra những điều cay đắng, nhưng tôi cũng lại biết rõ rằng nếu không dám đối mặt với sự thật, con người sẽ tự giết mình theo cách thức loài đà điểu: nhắm mắt, rúc đầu vào cát, chờ kẻ thù đến kết liễu mạng sống.

Nếu có thể mở mắt được, thì trước hết chúng ta nên mở mắt và nhìn vào cơ quan đại diện cao nhất, Quốc hội. Bởi vì về mặt chính danh, quốc hội được coi là cơ quan có quyền lực đối chất, giám sát và phủ quyết các đề nghị của chính phủ, như thế quốc hội cũng là bộ phận tinh tuý nhất của dân tộc vì các thành viên của nó đeo biển hiệu người đại diện, người lãnh phận sự nói lên sở nguyện của dân chúng.

Ông Nguyễn Trần Bật đã có bài viết rất hay về thân phận của các nghị sĩ trong xã hội Việt Nam hiện nay. Ông phân tích một cách rành mạch cái cơ chế độc đảng độc quyền khiến họ chỉ có thể tồn tại như những con rối, một thứ trang trí trong ngôi nhà quốc gia, một thứ thuốc giảm đau làm nguôi cơn phẫn nộ của đồng bào và một mánh khoé sân khấu nhằm tạo ấn tượng dân chủ giả hiệu để lừa dối dư luận quốc tế. Bài viết của ông là một đóng góp đáng kể để nâng cao trình độ nhận thức cho đám đông cũng như thúc đẩy sự phát triển tư duy dân chủ.

Tôi chỉ xin bày tỏ nỗi băn khoăn về hiện thực đương thời: Giờ đây, liệu có bao nhiêu phần trăm nghị sĩ dám đứng lên thật sự chất vấn, thật sự giám sát hành vi của chính phủ, nói cách khác dám chống lại sự lộng hành của bộ máy cầm quyền? Bao nhiêu phần trăm cay đắng ngậm ngùi về thân phận bù nhìn trong cam chịu và câm lặng? Còn lại, bao nhiêu phần trăm an nhiên chấp nhận vai trò Nghị gật với nụ cười… dã nhân?”

Từ vài chục năm nay, nỗi băn khoăn này là nỗi băn khoăn lớn nhất đối với những người đang đấu tranh cho dân chủ. Sơ đồ phân loại các đại biểu quốc hội sẽ được coi như biểu đồ diễn đạt sự tiến bộ xã hội, nói cách khác cuộc tập dượt dân chủ ở nước ta.

Theo như tin tức của VNexpress và BBC ngày 2 tháng 11 năm nay (2010) thì trong phiên họp ngày mồng 1 tháng 11 năm 2010, nhóm đại biểu quốc hội đứng lên chất vấn chính phủ về vụ Vinashin gồm các ông bà Nguyễn Minh Thuyết, Vũ Quang Hải, Lê Văn Cuông, Huỳnh Ngọc Đáng, Lê Thị Nga, Phạm Thị Loan, Nguyễn Văn Sỹ, Dương Trung Quốc. Tám người trên tổng số bao nhiêu? Và ý kiến của họ có được chính phủ giải đáp không? So với nhiều năm trước, đây là một dấu hiệu đáng lạc quan. Chỉ có điều, sự lạc quan của chúng ta vô cùng nhỏ bé bởi sau khi các đại biểu trên lên tiếng thì ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ tịch quốc hội lại dằn mặt họ “Vinashin thực chất đã phá sản chỉ có điều mình chưa tuyên bố mà thôi và đây là hình thức phá sản đặc thù của Việt Nam” rồi thì “Trong các lý thuyết về kinh tế thị trường thì phá sản là sự tàn phá sáng tạo, phá cái cũ để tạo ra cái mới, phù hợp với quy luật kinh tế ở thời điểm đó, thì hiện nay mình đang làm. Đừng vì vụ Vinashin mà kéo lùi tư duy đổi mới doanh nghiệp…”

Ông Kiên là tiến sĩ, uỷ viên uỷ ban kinh tế quốc hội, phó chủ tịch tỉnh Sóc Trăng. Tôi không hiểu ông nhặt cái bằng tiến sĩ này ở đâu?

Có thời, người ta tổng kết: Dắt một con bò qua biên giới khi trở về nó cũng trở thành tiến sĩ.

Ấy là vì nước đàn anh Liên Xô xưa kia sẵn sàng thí mảnh bằng này cho bất cứ công dân da vàng, da đen nào được cử đến Mạc Tư Khoa theo tinh thần “vô sản quốc tế” để họ có thể vênh vang quay về bản xứ thực hiện cuộc “cách mạng đỏ”. Hà Nội là mảnh đất đầu tiên được nếm các kinh nghiệm cay đắng với đám Tiến sĩ bò này.

Sau đó nhiều năm, đến lượt đảng cộng sản Việt Nam vinh quang có cảm hứng “trở thành trí thức” nên yêu cầu các cán bộ nòng cốt phải đủ bằng cấp. Vậy là các quan đầu tỉnh lũ lượt kéo về trường Nguyễn Ái Quốc học, kẻ học thật tính chưa đầy mười phần trăm, số còn lại nhét chữ không vào nên theo nhau nhậu nhẹt, chơi gái chán chê rồi khi hết thời gian “nâng cấp chất lượng đảng” thảy ra vài lượng vàng để đổi lấy tấm bằng vác về tỉnh lẻ.

Mặt khác, trong niềm kiêu hãnh cộng sản, các quan lớn nghĩ rằng họ đủ sức làm tất cả, kể cả việc lấy đá vá trời. Vì vậy, sự cư xử của họ nhiều khi ngây ngô đến mức thiên hạ khó hình dung nổi. Tôi nhớ rất nhiều lần, trong các buổi gặp gỡ tay ba, ông Trần Độ, ông Nguyễn Kiến Giang và tôi, tướng Trần Độ kể đi kể lại rằng ông Đỗ Mười đã hạ quyết tâm trở thành đại trí thức nên rủ ông Trần Độ “Tôi với anh bỏ ra hai năm học để lấy bằng tiến sĩ”.

Tướng Trần Độ liền đáp “Chúng ta học hai năm để hiểu được một phần những điều các tiến sĩ nói, thế cũng đã là tốt lắm rồi”.

Thứ hoang tưởng của trẻ mục đồng có thể khiến ta mỉm cười nếu đứa bé mơ mộng ấy ngồi trên lưng trâu nhưng một khi nó đã trở thành ý nghĩ thật sự của kẻ cầm quyền thì đó là tai họa tầy trời cho quốc dân, và lúc đó, chúng ta không còn cười mà phải khóc.

Sự “hạ quyết tâm hai năm giật mảnh bằng tiến sĩ” của ông Đỗ Mười khiến tôi nhớ lại cơn phẫn nộ thành thực của vua Tự Đức khi nghe Nguyễn Trường Tộ mô tả ngọn “đèn treo ngược” ở nước Pháp. Ông quan này suýt bị chém đầu vì cơn phẫn nộ thành thực và ngu xuẩn của nhà vua.

Khi óc hoang tưởng ngu ngơ kèm theo một quyền lực độc tôn không bị kiểm soát, ai hiểu các quan lớn cộng sản có thể làm những gì để vãi ra những tấm bằng tiến sĩ như mấy bà già nhà quê vãi thóc ra sân cho gà mổ? Bởi vì, chưa ai quên lời tuyên bố xanh rờn của ông Đinh Đức Thiện khi ông đương chức bộ trưởng bộ công nghiệp dẫn đoàn cán bộ lên tham quan nhà máy giấy Bãi Bằng “Cần bằng cấp hả? Thì in ra mà phát. Chúng tao đẻ ra bằng.”

Căn cứ vào lời phát biểu của ông Nguyễn Đức Kiên được BBC tiếng Việt trích lời mà tôi vừa nhắc lại trên thì hẳn ông đã nhặt mảnh bằng “giấy lộn” này ở biên giới nước Nga hoặc moi nó ra từ túi quần ông Đinh Đức Thiện.

Một đất nước không có đội ngũ trí thức thật sự, thì bọn lưu manh giả danh trí thức sẽ lên ngôi. Một đất nước không có những đại biểu quốc hội do chính dân bầu và bị dân bãi, do đó phải gánh trách nhiệm trước dân, đất nước ấy phải biến thành thứ bột nhão trong tay một nhóm cầm quyền tự coi mình là Thượng đế.

Một người đầy tự tin vì trí não sáng suốt và quá trình khổ học của mình như ông Nguyễn Trần Bật mà khi nói một điều hay phải kèm theo một lời dối láo thì đất nước ấy không thể coi là có tầng lớp trí thức thật sự. Ông Bật sau khi đã phân tích vô cùng chính xác tính bù nhìn và tình trạng bù nhìn bắt buộc của các đại biểu quốc hội Việt Nam lại phải chêm vài lời ca tụng ông Đỗ Mười, một trong những kẻ cầm quyền ngu dốt nhất, một con bệnh tâm thần (các bác sĩ viện Việt-Xô đã chỉ cho tôi xem cái cây mà ông Đỗ Mười thường trèo lên hô hét khi lên cơn điên), và chưa ai quên rằng chính sách của ông ta đã phá hoại nền kinh tế đất nước một cách không thể tính đếm.

Tôi biết ông Nguyễn Trần Bật đã lựa chọn “Chống đối một cách khôn ngoan” vì ông không muốn ngồi tù, không muốn con cái ông bị gạt ra lề xã hội, bị đe doạ, bị quấy nhiễu như con cái những anh em đấu tranh cho dân chủ. Nhưng, một khi ông Nguyễn Trần Bật đã uốn lưỡi hai chiều thì chưa thể định danh ông là trí thức thật sự dù ông khoe rằng mỗi tháng đọc sách mất bao nhiêu lít dầu.

Tôi cũng xin nhắc để ông Bật hiểu rằng ở nước ta không thiếu người đọc sách như ông hoặc hơn ông, có những người biết bốn thứ tiếng mà ngồi rũ trong tù vài thập kỉ đến khi ra thân tàn lực kiệt, gần như một phế nhân. Ông là trường hợp vô cùng hãn hữu, một con ruồi bay vọt khỏi cái vỉ đập của kẻ cầm quyền, ông chớ nên lấy sự may mắn của bản thân làm thước đo chung cho xã hội, trước hết là lớp người “muốn là trí thức thật sự mà bị dìm chết trong bóng tối ngục tù” ở Việt Nam.

Người trí thức thật sự là người chỉ tin và chỉ quy hàng chân lý mà thôi. Xã hội nào tạo được một lớp trí thức thật sự, xã hội ấy phát triển. Xã hội nào dùng nòng súng chọc vào họng người có chữ buộc họ uốn lưỡi hai chiều, xã hội ấy còn ở trong trạng thái man rợ, vì ở đó con người không thể sống xứng đáng với chính mình.

Chúng ta có thể tóm tắt tình trạng này bằng công thức:

Nhị Thể thì Nhất Tâm
Nhất Thể ắt Nhị Tâm.

Một xã hội dân chủ (gọi nôm na là nhị thể) nơi tồn tại các đảng đối lập, mỗi cá nhân mới có thể trung thực với chính họ và trung thực với đồng bào, bởi pháp luật đảm bảo cho nhân cách của họ được tồn tại. Xã hội nhất thể, tức xã hội độc tài, buộc con người phải nhị tâm, bởi pháp luật không đảm bảo cho họ được sống trung thực. Trong xã hội ấy, trừ những người ôm bom ba càng, liều mình như chẳng có, toàn thể đều nhị tâm, toàn thể đều bị nỗi sợ hãi làm biến hình, và sự dối trá ắt phải là món ăn thường nhật.

Phần trên, tôi có nhắc tới ông Tố Hữu và ông Phạm văn Đồng, họ quả là những kẻ tham quyền cố vị, vô năng, vô trách nhiệm nhưng theo sự hiểu biết của tôi họ không phải quân ăn cắp và ăn cướp. Nói cho đúng hơn, vào những năm đó chưa nhiều quân ăn cắp và ăn cướp trong chính phủ như bây giờ.

Ông Phạm Văn Đồng không xây nhà thờ họ năm bảy tỷ đồng như Nguyễn Tấn Dũng. Ông Tố Hữu cũng không trù dập báo chí như việc hạ lệnh tống giam hai nhà báo phanh phui vụ PMU18 mà ông Nông Đức Mạnh đã làm để che chắn tội tham nhũng của người thân.

Kể cả ông tổng bí thư “Đổi mới”, người đã kêu gọi các nhà văn “đừng uốn cong ngòi bút” rồi hơn một năm sau chính ta ông lại uốn cong lưỡi, người đã chửi tôi là “Con đĩ chống đảng” và đã tống giam tôi vào ngục năm 1991, ông ta – Nguyễn Văn Linh, cũng không phải thằng ăn cắp, hạng khốn nạn về nhân cách. Vợ và con gái ông ấy không nhảy lên nắm thị trường chứng khoán như ái nữ của ông Dũng xỉn. Khi thị trường này đổ bể, hàng bao nhiêu gia đình phá sản, vỡ nợ, ái nữ của ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn nhơn nhơn chường mặt ra đó, cô ta không vào tù, không mất chức, không nói một lời xin lỗi đối với dân. Bố đẻ cô ta cũng vậy.

Vậy phải chăng dân Việt đích thị là một con gà để kẻ cầm quyền tha hồ vặt lông vặt cánh? Hay dân Việt là lũ trâu bò mà bao nhiêu ngọn roi quất lên lưng họ cũng… như không? Tuỳ theo cách nhìn của độc giả.

Tuy nhiên, dân tộc Việt đã từng chiến đấu một nghìn năm với Bắc phương để giữ được nền độc lập, vì lẽ ấy, tôi không muốn tin rằng họ tiếp tục câm lặng, tiếp tục cam chịu những khổ nhục này. Dân tộc Việt đã sản sinh ra những người lặn xuống lòng sông Bạch Đằng để cắm cọc sắt. Dân tộc ấy đã đẻ ra những chiến sĩ ôm bom ba càng. Cuộc cách mạng tháng tám năm Ất Dậu là cuộc cách mạng hào hùng để giải phóng dân tộc. Trước cuộc cách mạng ấy, khi chưa bị quyền lực làm hủ hoá nhân cách, ông Tố Hữu là người khởi nghĩa đầy can đảm. Ông đã mượn ý nhà cách mạng Pháp Jean-Paul Marat mà làm bài thơ Hãy đứng dậy (tháng 4 năm 1938):

Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống
Hỡi nhân dân, hãy đứng thẳng lên! (1)

Ý tưởng của Jean-Paul Marat mạnh như roi quất, loé như ánh chớp soi đường cho đám đông. Nhưng Jean- Paul Marat không chỉ khích lệ dân chúng can đảm đứng lên nắm vận mệnh trong đôi tay của chính mình, ông còn là người bạn đích thực và chân thành của dân chúng như ông thường tự nhận “L’ami du peuple”.

Ông chỉ ra cho dân chúng thấy rõ những cạm bẫy mà bất cứ kẻ cầm quyền nào cũng sẽ giăng ra: ru ngủ dân chúng; giam hãm họ trong ngu dốt và truỵ lạc; khích động họ bằng sự khoe khoang xuẩn ngốc và sau rốt, buộc họ phải ngoan ngoãn tuân phục.

Jean-Paul Marat cảnh báo rằng “Sự tuân phục mù loà của quần chúng được coi như sự ngu xuẩn của chính họ”

Nguyên văn: “Toujours une aveugle obéissance suppose une ignorance extrême.”

Tuy nhiên, sự cảnh báo đó cũng chưa quan trọng bằng định nghĩa sau đây: “Chính phủ là kẻ thù của dân chúng.”

Nguyên văn: “Le gouvernement est l’ennemi du peuple.” (2)

Định nghĩa này chiếu rọi ánh sáng vào sự vật, vô hiệu hoá mọi trò lừa đảo, loè bịp và mị dân của kẻ thống trị, đem lại xác tín cho dân chúng về quyền hành động chính đáng của họ.

Tại sao chính phủ lại là kẻ thù của dân chúng?

Đơn giản thôi, vì cái Ngã của con người là con quỷ vô cùng khủng khiếp, thường xuyên chiến thắng trong cuộc tranh đấu với lương tâm. Vì thế, bất cứ bộ máy cầm quyền nào cũng tìm mọi cách để thụ hưởng tối đa, tức là ngoạm phần bánh to nhất và buộc dân chúng gánh chịu mọi rủi ro, tổn thất. Lời hứa hẹn của kẻ cầm quyền là thứ thực phẩm dễ bị hư hại, nó sẽ thiu thối ngay sau phút cuộc bầu cử khoá hòm phiếu, xếp trống kèn.

Vì lẽ đó, ở các nước dân chủ người ta mới cần các hình thức biểu tình, bãi công, các đại nghị để bộc lộ sự bất bình của dân chúng và cứ năm năm hoặc bốn năm (tuỳ theo quốc gia) lại phải có một cuộc bầu cử để dân chúng thực thi quyền lựa chọn của mình.

Nhưng muốn có bầu cử thực sự phải có đảng đối lập, còn ở các nước độc tài như xứ Việt Nam ta, bầu cử là trò hề mà cả kẻ bầy trò lẫn kẻ buộc phải tham dự đều biết tỏng tòng tong. Những năm sống ở Hà Nội, mỗi lần bầu cử, tôi lại nghe các bà bán rau bán thịt ở chợ Khương Thượng gọi nhau oang oang: “Cứ mười quầy cử một đại diện đi bầu cho xong. Các ông ấy đã sắp xếp hết rồi, còn đâu mà chọn lựa”.

Có thể các độc giả sẽ nói rằng dân châu Á đã quen với ách thống trị độc tài, họ không cần nền dân chủ. Rằng dân chủ là thứ táo thứ lê chỉ có thể trồng ở châu Âu và châu Mỹ, còn ở xứ ta chỉ có rau muống rau cải mà thôi. Nếu thế, làm sao giải thích được tình trạng hai nước Bắc Hàn và Nam Hàn?

Cùng một dân tộc, cùng một văn hoá, cùng bị chi phối bởi một quá khứ, tại sao giờ đây hai xứ sở đó cách nhau một trời một vực? Phải chăng một thiết chế dân chủ có thể biến một công dân Hàn Quốc đang ăn cỏ dại ở miền Bắc trở thành một người văn minh, sung túc ở phương Nam? Phải chăng, một nửa dân nước Hàn là người tự do, nửa còn lại, cũng như người Việt chúng ta, bị loại khỏi vũ đài bởi họ không đủ tư cách ấy?

Xin độc giả tự trả lời.

Phần tôi, tôi không nghĩ rằng dân tộc chúng ta tót vời thông minh, nhưng tôi cũng chẳng tin rằng người Việt thuộc loại ngu dốt. Vấn đề cơ bản là thiết chế xã hội đã trói buộc họ trong sự thiếu hiểu biết, trong sợ hãi, trong đói nghèo. Một con chim bị buộc chặt hai cánh chỉ có thể nhảy lò cò trên sân mà không bao giờ bay lên được. Sự thành công của các thế hệ người Mỹ gốc Việt hiện nay chứng minh điều đó.

Cũng vì cái thực tiễn vô cùng cám dỗ ấy mà giờ đây biết bao gia đình bán nhà, bán đất, thắt lưng buộc bụng cho con cái ra nước ngoài học. Trong thâm tâm, ai cũng mong “Thoát Việt!”, ra khỏi mảnh đất bùn lầy tối tăm này bằng mọi giá.

Cũng tốt thôi, nhưng liệu bao nhiêu người sẽ thoát được Việt nếu tính trên tổng số dân chúng? Và liệu các thế hệ sau này có thể được sống một cách đàng hoàng với đầy đủ sự tự tin và lòng tự trọng hay không khi mà các cánh cửa ở biên cương càng ngày càng khép chặt, khi người da mầu bị lục soát một cách nhục nhã khắp nơi, và khi cánh Hữu đang dậy lên như sóng ở châu Âu cũng như các nước khác?

Đừng quá nhiều ảo tưởng. Ảo tưởng nào cũng sẽ dẫn đến sự đổ vỡ, không sớm thì muộn. Đời là dòng sông trôi chảy và nước không dừng lại dưới chân cầu. Những thuận lợi mà người Việt nhập cư được hưởng vào những năm Thuyền nhân không còn nữa. Cũng không còn nữa cái nhìn thiện cảm của thế giới đối với người Việt sau những năm Thuyền nhân và sau rất nhiều thất vọng qua quá trình chung đụng.

Rượu vang đang ở quá trình biến thành dấm. Bởi vậy, dù có muốn đại đa số người Việt cũng không thể thực hiện được giấc mơ đổi đời của họ ở xứ người. Điều họ có thể làm được là thay đổi cuộc đời của chính họ trên quê hương, là đấu tranh để xây dựng một thiết chế xã hội tiến bộ hơn, để họ có thể thực sự làm công dân, được sống với đầy đủ Quyền con người.

Nếu sự ù lỳ, sự cam chịu đã trở thành căn tính khiến người dân Việt tê liệt thì trong một tương lai gần, chắc chắn họ sẽ không còn là người Việt nữa. Với toàn bộ các căn cứ quân sự đã và đang tiếp tục xây dựng trên Tây Nguyên cũng như các khu vực biên giới dưới mọi thứ trá hình: khai thác mỏ, thuê đất trồng trọt…, con mãnh hổ Trung Hoa càng ngày càng cắm sâu móng vuốt của nó vào bờ cõi của chúng ta, tạo một vành đai chiến lược mà khi cần, các quân đoàn sẽ trùng trùng đổ xuống như thác.

Một sáng thức dậy, người dân Việt sẽ thấy lính Trung Hoa đứng đầy các phố phường, làng xóm, nương bản mà họ chưa kịp dụi mắt. Chính phủ của họ, chính quyền Hà Nội đã tiếp tay cho cuộc chuẩn bị này. Đảng thân yêu của họ từ lâu đã trở thành con chó của ông chủ Bắc Kinh, dùng tất thảy mọi biện pháp để bịt mắt đám đông, bóp mồm những ai dám lên tiếng. Bộ máy công an được huy động tối đa để dập tắt các sites internet, để bắt giữ những người dám đưa tin và đưa hình về các khu vực mà lính Tầu đang ồ ạt đổ xuống xây cầu đường, thiết lập doanh trại, lập làng mới để di dân Trung Hoa.

Cuộc tái chiếm Giao Chỉ đang được thực thi một cách quy mô và khẩn trương mà các thái thú Tô Định tân thời, những kẻ ngồi quanh bàn họp Bộ chính trị, trừ Tô Huy Rứa, đều mang tên Việt.

MỘT NGHÌN NĂM BẮC THUỘC LẦN THỨ HAI đang chờ đợi dân tộc chúng ta.

Nếu dân Việt không đứng lên hành động vào lúc này, nền độc lập chắc chắn sẽ tiêu vong. Họ sẽ trở thành người Tây Tạng của thế kỉ XXI. Thần Kim Quy không còn hiện ra lần nữa dù họ cầu khẩn ngàn lần.

“Hãy tự cứu mình trước khi Chúa trời cứu!”

Câu châm ngôn ấy không chỉ dành cho dân công giáo mà dành cho toàn bộ loài người. Trước thế kỉ XVI, nước Pháp là một trong các xứ mộ đạo, nơi quyền lực của Giáo hoàng lấn át quyền lực của nhà Vua, vậy mà nước Pháp ấy đã biến thành nước Pháp cộng hoà, nước Pháp thế tục sau một cuộc cách mạng long trời lở đất. Cũng chính cuộc cách mạng ấy đã khai sinh ra cái ý tưởng mà nhân loại phải biết ơn mãi mãi: Quyền con người.

Từ cuộc các mạng ấy đến nay hơn hai thế kỉ đã trôi qua, nhưng lời kêu gọi của Jean-Paul Marat vẫn luôn luôn là ánh sáng rọi đường cho các dân tộc yếu kém, các dân tộc bị dìm trong bóng tối của sự thiếu hiểu biết, bị tê liệt vì khiếp nhược.

Lời kêu gọi của nhà cách mạng này cũng còn nguyên hiệu lực đối với một dân tộc đang đứng trước nguy cơ tái nô lệ như người Việt giờ đây:

NGƯỜI TA LỚN BỞI VÌ NGƯƠI QUỲ XUỐNG
HỠI NHÂN DÂN! HÃY ĐỨNG THẲNG LÊN!

Lần cuối cùng, xin chân thành cảm ơn các độc giả. Xin lượng thứ cho những nhầm lẫn của tuổi già. Xin chào vĩnh biệt.

© DCVOnline

——————————————————————————–

DCVOnline:
(1) Nguyên văn bài thơ “Hãy đứng dậy” của Tố HữuNgười ta lớn bởi vì ngươi cúi xuống
Hỡi nhân dân hãy đứng thẳng lên!
(Ma-rat)

Người ta lớn bởi vì ngươi quỳ xuống
Có gì đâu ta cầu khẩn van lơn?
Có gì đâu ta ôm mối căm hờn?
Hãy đứng dậy, ta có quyền vui sống!

Ai đi gõ vào cửa lòng lạnh ngắt
Và thiết tha năn nỉ với hồn say
Trên muôn thây, tiệc rượu máu tràn đầy?
Không! Không thề sống như bầy hành khất!
Hãy đứng dậy! Ta có quyền vui sống!
Cứ tan xương, cứ chảy tuỷ, cứ rơi đầu!
Mỗi thây rơi sẽ là mỗi nhịp cầu
Cho ta bước đến cõi đời cao rộng.

Huế, tháng 4/1938

DCVOnline: Tuy Tố Hữu và nhiều người khác cho tác giả ý hai câu Người ta lớn bởi vì ngươi cúi xuống / Hỡi nhân dân hãy đứng thẳng lên! là Jean-Paul Marat nhưng chưa khi nào trích dẫn nguồn và nguyên văn “ý tưởng của Marat” đã viết khi nào đăng ở sách, báo nào.

(2) Là bài viết thứ bẩy trong Tập (I) của tờ “L’ami du peuple”

L’ami du peuple (I)

Dénonciation contre Necker
Il faut créer un tribunal d’état
Les subsistances
Discours au peuple
Profession de foi de Marat
Réflexions sur les dettes du gouvernement devenues nationales
Le gouvernement est l’ennemi du peuple
Protestation contre la loi martiale
Sur le plan du comité militaire
Évasion d’une religieuse de l’abbaye de Pantemon

Trích, “Il est une vérite éternelle dont il est important de convaincre les hommes: c’est que le plus mortel ennemi que les peuples aient à redouter est le gouvernement.” (Le gouvernement est l’ennemi du peuple)

Nguồn: Journal “L’Ami du Peuple”; Charles Simond, Marat. Ed. L. Michaud, Paris 1906.

Nguồn : DCVOnline

Đăng tải tại Xã hội | Bình luận về bài viết này

Talawas

Talawas

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

CHÚNG TA ĐANG XẺ THỊT ĐẤT NƯỚC MÌNH ĐỂ SỐNG

Ngô Minh

Cách đây vài ba năm, báo chí đưa tin làm tôi giật mình: Đến năm 2012, Việt Nam phải nhập than đá ! Thế mà đến năm 2011, nước ta đã phải nhập hàng nghìn tấn than đá từ nước ngoài. Ai cũng lo, ai cũng bức xúc. Ôi thuở ấu thơ tôi được các thầy dạy :” Việt Nam ta rừng vàng biển bạc”. Bây giờ thì sắp cạn rồi sao ? Nhìn lại  đối mới từ năm 1986 đến nay,  một thực trạng đau lòng đang diễn ra khắp nơi : Chúng ta đã khai thác, buôn bán tài nguyên quốc gia một cách ồ ạt, vô tội vạ. Dường như  thu nhập GDP đất nước đều do buôn bán tài nguyên mà có, còn hàng hoá sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao chiếm tỷ lệ không đáng kể. Nghĩa là từ “đổi mới” đến nay, chúng ta đang sống nhờ bán tài nguyên, chứ chẳng làm được thương hiệu   gì bền vững có tầm cỡ thế giới cả.  Nhìn qua Hồng Kông, Ma Cao,Singapore , Nhật Bản… mà thương cho đất nước mình. Người ta chẳng có nhiều tài  nguyên khoáng  sản, sao người ta giàu thế . Còn  mình bán  tài nguyên mà ăn, rồi con cháu vài thế hệ sau ăn không khí à ?

  Tài nguyên quốc gia do mồ hôi xướng máu bao đời giành được  gồm : trời, đất , núi, nước, rừng, biển, khoáng sản và môi trường.   Trong hoà bình xây dựng 30 năm nay, do ấu trĩ trong nhận thức và non kém về quản lý, chúng ta tiếp tục tàn phá tài nguyên dữ dội hơn, nặng nề hơn . Hình thế núi sông Việt Nam đang thấy đổi từng ngày,  đang bị cày xới nham nhở  !

  20 năm qua có rất nhiều “phong trào” bán tài nguyên để “làm ngân sách” xảy ra rầm rộ. Như khai thác gỗ rừng để xuất khẩu ồ ạt. Quốc doanh khai thác xuất khẩu, “hợp tác xã” khác thác xuất khẩu, tư nhân núp bóng nhà nước khai thác, xuất khẩu…Gỗ cứ kìn kìn từ rừng miền Trung, rừng Tây Nguyên đổ về  các cảng biển. Các đầu nậu gỗ, những người cấp phép khai thác gỗ, cấp quota xuất khẩu gỗ  giàu lên  từng ngày một. Đến khi “ngộ ra”, ban hành lệnh cấm, thì rừng đã bị “ “bán ăn” gần hết. Thế là lại phải “làm dự án” trồng 5 triệu hec-ta rừng gần chục năm nay vẫn không thành .

   Hết rừng rồi thì bán đất rừng. Hơn 300.000 héc ta rừng đầu nguồn đã bị các tỉnh bán cho doanh nhân Trung Quốc khai thác 50 năm. Nghĩa là  50 năm năm , chúng muốn biến  mảnh đất rừng đó thành căn cứ quân sự, lô cốt, hầm ngầm.v.v… là quyền của họ. Hết nước rồi non nước ơi !

       Bán hết rừng đến  bán khoáng sản dầu thô, than đá, cát, quặng ti-tan, quang a-pa-tít, quặng vàng…Nghe thông tin báo chí về việc xuất khẩu than lậu ở Quảng Ninh mà choáng váng . Trữ lượng than của ta ở Quảng Ninh có được bao lăm mà hô hào thành tích “ khai thác và xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước”?; rồi quản lý yếu kém để cho hàng trăm công ty “ma” xuất khẩu than lậu một lúc hàng trăm tàu. Sao coi tài nguyên quốc gia “như vỏ hến” vậy ?

           Người bán gỗ, bán than, thì  có kẻ lại bán núi, bán  đất ruộng làm giàu. Xem ra bán núi bán đất dễ giàu có hơn. Trong những chuyến đi thực tế ở vùng Đông Bác hay Thanh Hóa, Ninh Bình…, tôi thấy nhiều ngọn núi bị san bằng trơ trọi, để khai thác đá sản xuất xi măng, đá xây dựng. Bây gìờ tỉnh nào cũng hai ba nhà máy xi măng, hàng chục công trường  khái thác đá hàng ngày ra sức san phá núi. Có tỉnh bán luôn cả ngọn núi cho nước ngoài làm xi măng, không chỉ bán phần dương mà còn bán cả phần âm tới 30 mét sâu, nghĩa là 50 năm sau, núi thành hồ ! Hình sông thế núi Việt Nam ngàn đời hũng vĩ , bây giờ đang  bị xẻ thịt nham nhở.  Liệu con cháu  tương lai sẽ sống như thế nào, có còn hình dung ra nước non Việt tươi đẹp xưa nữa không, khi mà quanh chúng núi non bị  gậm nhấm, thân thể Tổ Quốc ghẻ lở, xác xơ ?. Tài nguyên của mình, nước ngoài đến khai thác rồi chế biến thành sản phẩm xuất khẩu của họ, trong lúc hình hài non sông bị xâm hại. “Bán núi” để ăn như thế có đau núi quá không? 

“Bán đất” mới là cuộc tỉ thí với tương lai khủng khiếp nhất. Tỉnh  nào cũng có vài ba Khu công nghiêp, nhưng chẳng  làm ra sản phẩm xuất khẩu nào có thương hiệu cả vì máy móc lạc hậu,  bán trong nước cũng chẳng ai mua . Tỉnh nào cũng có ba bốm sân golf. Rồi dự án mở rộng đô thị lên gấp đôi gấp ba, dự án  khu biệt thư, …đang làm cho đất nông nghiệp, đất trồng lúa trong cả nước, đất trồng cây ăn trái ở Nam Bộ đang thu hẹp với tốc độ chóng mặt. mỗi năm có  từ 73.000- 120.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi, bịu chuyển đổi. Mở rộng đô thị thì đất ruộng thành đất thành phố, bán với giá cao hơn. Đua nhau mà  ăn chia, lấn chiếm, đẩy nông dân ra khởi mảnh đất ngàn đời sinh sống của họ. Thế là khẩu hiệu của Cộng Sản “dân cày có ruộng”  thành trò đùa lịch sử.

  Vì mục tiêu tăng GDP, tăng thu ngân sách , các tỉnh đang thi nhau bán đất  nông nghiệp một cách vô tội vạ . Mất đất, chỉ nông dân và nhà nước là  thua thiệt. Ruộng mình đó, đất mình đó, bỗng nhiên bị mất trắng tay . Tiền đền bù giá bèo không đủ mua đất mới để xây nhà, nói chi đến làm ăn sinh sống

          Hết bán rừng, than, ti-tan, đá, người ta con bán  cả bo-xit Tây Nguyên, thứ mà cách đây mấy chục năm, khối Comicom ( Khối kinh tế các nước XHCN) đã ngăn không cho khai thác, họ sợ làm hư hỏng môi trường và văn hóa Tây Nguyên. Nhưng bây giờ thì  bất cần tương lai Tây Nguyên , bất cần hàng ngàn trí thức tâm huyết với đất nước kịch liệt phản đối, họ vẫn khai thác. Nhưng, bọn  người được quyền đầu tư khai thác ấy lại là bọn giặc truyền kiếp phương Bắc ngàn đời của Dân tộc ta mới đau, mới lo chứ.Chúng thâm hiểm lắm, người ơi.  Chúng mang hàng ngàn người ( dân binh ?) vào Tây Nguyên, với  kế hoạch làm chủ tây Nguyên của Việt nam. Các nhà chiến lược quân sự thường nói :” Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ Đông Dương”. Chao ôi, từ việc bán tài nguyên đến “bán nước” chỉ còn một khoảng cách mong manh như sợi chỉ !

    Nước là loại tài nguyên quý giá cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Hiện nay tất cả các con sông đều “đang chết dần” vì ô nhiễm do chất thải công nghiệp, bệnh viện chưa qua xử lý đều thải trực tiếp ra sông.  Mạch nước ngầm đang xuống thấp chưa từng có do khai vô tội vạ.   Rồi “phong trào” phát triển thuỷ điện tùm lum làm cho mực nước ở đồng bằng giảm xuống. Đến cả sông Hồng cũng cạn trơ đi bộ qua được. Có tỉnh làm đến hàng chục nhà máy thuỷ điện. Được điện thì mất lúa vì đất đai khô cằn không có nước tưới,  bị sa mạc hoá không trồng lúa, trồng màu được.   Muốn phát điện thì mực nước tích ở hồ phải cao hơn mực nước chết. Ví dụ  Hồ thuỷ điện Hoà Bình bình thường mực nước cao 115 mét. Mực nước chết cao 80 mét. Nghĩa là để có điện, phải tích nước cao hơn 80 mét. Cái lượng “nước chết” cao 80 mét ấy chứa hàng tỷ mét khối không thể đổ về những cánh đồng lúa được, thì ruộng khô hạn là phải ! Mùa lũ, nhà máy điện xả lũ để bảo vệ đập, thế là không chỉ xóm làng mà cả xá cũng ngập chìm trong nước. Làm thủy điện vô tội vạ cũng là một cách “ăn tài nguyên nước” qua dự án đầu tư. Không “ăn” dự án  thì các quan huyện, quan tỉnh, quan trung ương tiền đâu mà làm nhà lầu, mua xe hơi, sống cuộc sống giàu sang phú quý, cho con đi học các trường nổi tiêngs thế giới như Ha-vớt, Sóc-bon ?

           Chúng tôi khẩn thiết đề nghị Chính phủ và chính quyền các địa phương phải có một chiến lược khai thác tài nguyên lâu dài và chỉ đạo thực hiện thật quyết liệt mới mong không bắn đại bác vào tương lai.  Chúng tôi đề nghị :

           – Kiểm kê lại tài nguyên đất nước để có kế hoạch bảo vệ.  Quy hoạch chi tiết  ngay các vùng đất nông nghiệp lâu dài, vùng núi non hung vĩ, và cấm tiệt việc khai thác bừa bãi.

          – Phải dừng ngay các dự án khai thác Bo-xít Tây Nguyên vì với sự án này, người Trung Quốc không  cần bo-xít , cái mà họ cần là địa bàn Tây Nguyên, đó là điều mà nhiều trí thức lớn đã phân tích, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có thư cảnh báo. Phải thu hồi các diện tích đất  rừng bị bán cho nước ngoài, dù phải bồi thường hợp đồng , vì chúng đang đe dọa đến vận mạng, sự sống còn của đất nước.

           -Hạn chế tối đa, kiểm tra chặt chẽ  các dự án đầu tư FDI vào lĩnh vực khai thác tài nguyên ( như xi măng, quặng ti tan, và các loại khoáng vật khác ) , khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài để làm giàu cho đất nước. Chúng ta phải hướng nền kinh tế theo cách làm của Nhật Bản, Singapor , Hồng Kong, những nước ít tài nguyên nhưng biết cách làm giàu bằng trí tuệ.

Ôi, giá mà tiếng kêu của tôi đến được tai những người đang cầm  vận mệnh đất nước trong tay .

Đăng tải tại Xã hội | Thẻ | Bình luận về bài viết này

Ảnh của tôi

Ảnh của tôi :

Đăng tải tại Uncategorized | Bình luận về bài viết này

Welcome! My son.

Chào mừng con ra đời, ba làm blog này cho con.

Đăng tải tại Xã hội | Bình luận về bài viết này